Chuyện trầu không

Cô Năm trồng trầu và ăn trầu nên người làng quen gọi là cô Năm trầu. Về già, người làng gọi cô là bà Năm trầu, rồi gọn lỏn là bà già trầu.

Dù rất thương yêu vợ và tôn kính người sinh thành, nuôi dưỡng người đầu ắp tay gối mang hạnh phúc đến cho mình; và không hề có ý khích bác nhưng rể út của bà Năm không đắn đo mở cái ngoặc kép về má vợ mình, với anh, bà già trầu còn có hàm ý là người già khó chấp nhận cái mới, bo bo níu giữ cái cũ kỹ và lo sợ sự thay đổi.

Minh họa: Lý Long

Minh họa: Lý Long

Xa xưa, nhiều đàn ông đàn bà trong làng ăn trầu; tới thời bà Năm trong làng chỉ còn đàn bà ăn trầu, chắc là cánh đàn ông thích thú với thuốc lào và thuốc điếu hơn. Ngày nay, công nghệ sinh học ứng dụng trong nông nghiệp tạo ra nhiều giống cây trồng mới đáp ứng thị hiếu và nhu cầu của xã hội, các chủ vườn nhổ gốc cây trồng trước đây, chọn giống cây trồng mới phù hợp thổ nhưỡng cho thu nhập cao hơn nên cả làng chỉ còn hai nhà vườn trồng trầu không, mỗi vườn năm bảy chục nọc trầu bán lá cho các gia đình làm lễ cưới hỏi hay cúng kiến vào ngày giỗ chạp, ngày Sóc Vọng… Còn cây cau thì người làng chỉ trồng rải rác theo ranh vườn, có vẻ như cây cau là cây trồng kèm theo vì có trầu thì phải có cau. Người ăn trầu ngày càng hiếm hoi, thường là người già nên có tên gọi bà già trầu kèm tên cúng cơm...

Hai nhà vườn trồng trầu không là nhà cô Năm và nhà cậu Hai, hai vườn này sát ranh, ranh bên này trồng dãy cau còn ranh bên kia trồng hàng dừa. Ba má cô Năm chỉ có độc một người con gái, thật ra cô Năm còn có mấy anh chị nhưng họ vắn số, đã mất từ nhỏ; còn ông bà Tư Xụi chỉ sinh được một người con trai là cậu Hai - ông Tư bị sốt tê liệt lúc nhỏ làm một chân bị teo tóp nên có biệt danh Tư Xụi. Cậu Hai và cô Năm phải lòng nhau nhưng hai ông già không ưa nhau nên chuyện duyên số của hai đứa con trắc trở. Ông bà đã nói miếng trầu là đầu câu chuyện nhưng dù hai gia đình đều trồng trầu, có cả vườn trầu nhưng trong chuyện hôn nhân của hai trẻ miếng trầu chẳng làm cho hai ông già cởi mở với nhau hơn, vì ông bà Tư Xụi mới nhờ mai mối mang khay trầu cau tới nhà dợm lời xin cô Năm cho cậu Hai thì đã bị từ chối khéo là “em nó còn nhỏ dại”, dù cô đã “mười bảy bẻ gãy sừng trâu”.

Sự không ưa nhau hay hiềm khích chi đó giữa hai ông già không rõ nguyên nhân gì, từ đâu. Thiên hạ người nói này người nói khác, mấy ông già trạc tuổi làm ra vẻ biết chuyện kể nguyên nhân vì hai người… giành gái, là một cô ở làng bên từ thuở mười tám đôi mươi. Mối hận tình từ lúc thanh xuân đến bạc đầu còn nặng trĩu trong lòng thì hẳn sâu nặng lắm, dù không người nào rước được cô gái đó làm vợ. Còn mấy bà buôn trầu cho nguyên nhân là vì hai bà vợ gièm pha giá cả bán trầu rồi to nhỏ với chồng làm hai người đàn ông nể nang vợ xui theo nên không nhìn mặt dù vườn giáp ranh. Ở quê, chuyện con gà con qué có khi cũng là nguyên nhân gây xích mích: chỉ vì con gà trống nhà này chui rào sang tán tỉnh con gà mái nhà kia rồi bị con ki ki đớp sứt đầu mẻ tai mà thành chuyện! Cũng có người nói vì ông Ba, ba của cô Năm, chuyện trò với ai cũng kêu thằng Tư què trong khi danh chính của người ta là Tư xụi. Xụi và què hoàn toàn khác nhau mà đánh đồng vậy làm sao ưa nhau được?

Sách vở chép rằng: Con tim có lý lẽ của nó! Mà con tim là trung tâm quyền lực của tình yêu nên tình yêu càng có cấp số nhân lý lẽ. Tình yêu của hai người đang yêu không có ranh giới, ranh giới tạo nên bởi hai ông chủ vườn trầu, dù là ranh bằng hàng dừa rậm rạp hay ranh bằng hàng cau cao vút cũng không ngăn được hai tâm hồn đồng điệu. Hai ông già chưa đồng ý thì đôi trẻ kiên trì chứng tỏ tình yêu của mình không lay chuyển, không ai không gì áp lực họ hết yêu nhau được; và họ chờ đợi bởi biết rằng, mình còn một thời gian dài để sống và yêu nhau. Một năm, hai năm rồi năm năm sau, Tư Xụi xui xẻo thành Tư què vì trượt bờ mương không gãy chân xụi mà gãy cái chân lành; còn ba cô Năm té thang trật mấy đốt xương sống vì cái thang tre mục không chịu nổi sức nặng của ông lúc leo thang cắt cuống trái mít chín. Bây giờ, hai ông ngồi một chỗ ngẫm nghĩ mới nhận ra mình đã quá khích và cực đoan khi giăng rào hạnh phúc của con bằng định kiến vô duyên, vô lý trong khi tuổi già sòng sọc tới; có nguy cơ không có cháu chắt chăm sóc mả mồ, mà tình cảnh đó dân gian ác miệng gọi là… chó ỉa đầu mả. Vai trò ông mai lúc này được phát huy, ông mai nhỏ to khuyên giải hai ông già ngang bướng vì không ông nào chịu xuống nước trước. Sau cùng khay trầu cau của nhà trai mà ông mai mang sang nhà gái cũng được vui vẻ chấp thuận. Hai bên đều neo người, cô Năm chạy qua chạy lại nhà ba má ruột và nhà ba má chồng nhưng tất nhiên, đêm ngủ ở nhà chồng. Hai nhà giáp ranh nên ba má hai bên ới một tiếng là cô Năm có mặt, có khi gấp gáp, cô chui rào chớ không cần đi chính ngạch là qua cái cổng tre.

* * *

Theo truyền thuyết, vì thành hoàng của làng là một phụ nữ nên đàn bà trong làng thọ hơn đàn ông. Hai ông sui rủ nhau rong chơi miền mây trắng, rồi tới bà Tư; chỉ còn bà già trầu Năm nhỏ con mà săn chắc, dẻo dai sống với con cháu. Tuổi già thường được tạo hóa ban cho nhiều bệnh về xương khớp, tim mạch, mắt mờ, tai nghễnh ngãng… nhưng có vẻ bà Năm bị bỏ quên; bà vẫn làm lụng cả ngày, leo thang chăm sóc dây trầu tuy không nhanh nhẹn như xưa.

Ông bà có nói Già sanh tật, đất sanh cỏ phản ảnh quy luật tự nhiên: đất bỏ hoang cỏ tất sẽ mọc cũng như con người về già ngoài thay đổi về cơ thể; còn thay đổi về tâm lý, tánh tình. Bà Năm không như nhiều người già khác hay phán xét, khó chịu, cằn nhằn, tủi thân, trách móc… Bà chỉ mắc cái tật không chấp nhận cái mới. Theo bà, cứ bậc ông bà, cha chú làm thế nào thì người sau phải làm thế ấy; không được thay đổi vì hành động, lời nói của ông bà, cha chú cứ y như là… đinh mười phân đóng cột.

Nền y học hiện đại có thể chữa trị nhiều bệnh nhưng tật thì không sao chữa khỏi. Chàng rể út của bà Năm chữa tật cho má vợ suốt thời gian dài mà chưa có kết quả.

Bà Năm gằn giọng:

- Tao không đồng ý… Tụi mày không được phá nọc trầu của ông bà để lại mà trồng giống trầu khác!

Chàng rể út nhẫn nhịn:

- Nhưng thưa má! Vườn trầu nhà mình đã cỗi, mỗi kỳ có hái được bao nhiêu liễn trầu(*) đâu…

Bà Năm nạt:

- Cỗi thì sao? Già cỗi thì bỏ thì chôn hả? Bây đem tao chôn luôn đi… Tao cũng già rồi, này!

Thua! Thua toàn tập! Chàng rể hiếu thảo lắc đầu, chỉ còn biết nhờ vợ òn ỉ nỉ nôi với bà già trầu.

Vợ chồng gái út của bà Năm sống bằng nghề nông, ranh hai vườn trầu giáp nhau xưa kia được phá bỏ từ lâu. Ngoài trồng lúa nước, rau cải; vườn trầu lớn cho họ thu nhập đủ trang trải cuộc sống nhưng sau nhiều năm, trầu già sanh nhiều bệnh không phân, thuốc nào cứu vãn. Chàng rể, người trực tiếp chăm sóc vườn trầu đề nghị má vợ phá bỏ để trồng loại trầu giống khác cho thu nhập cao hơn đang thịnh hành nhưng bà Năm không đồng ý; dù anh viện dẫn nhiều chứng cứ rành rành: gốc trầu già thoái hóa không ra nổi rễ non, là trầu bị nhiễm nấm lở loét và dày cộm nhợt nhạt chớ không tơ xanh mơn mởn. Giống trầu mà bà Năm muốn giữ lại là trầu quế, loại trầu xưa nay mặc nhiên được người dân trong vùng coi là lễ vật thiêng liêng để cúng kính trong đình miếu, ngày giỗ ông bà, dịp cưới hỏi… Trầu quế lá hình trái tim, có vị cay nồng, hương thơm nhẹ đặc trưng mùi quế; còn trầu mỡ, giống trầu mà rể út của bà Năm muốn trồng có bản lá to, màu sáng bóng như thoa phớt lớp mỡ.

Bà Năm trề môi:

- Giống trầu mỡ ăn nhạt thếch, chẳng thơm tho đậm đà chút nào…

Chàng rể út chống chế:

- Nhưng trầu mỡ dễ trồng, lớn nhanh và cho năng suất lá cao hơn trầu quế. Cái quan trọng là bây giờ trên thị trường, các công ty tranh mua lá trầu để xuất khẩu, họ mua lá trầu không tính bằng liễn, bằng ốp mà tính bằng ký lô, bằng tấn…

Bà Năm ngạc nhiên:

- Người nước nào ăn trầu nhiều đến nỗi phải mua lá trầu hàng tấn?

- Thưa má! Họ ăn trầu thì ít mà mua để làm thuốc vì lá trầu có nhiều tác dụng sát trùng, kháng khuẩn, chống thấp khớp…

Sau ngày vợ chồng gái út đưa bà Năm đi xem mấy vườn trầu mỡ làng bên đang cho thu hoạch, được các chủ vườn xác nhận huê lợi nhiều hơn chỉ trồng trầu bán lá để cúng kiếng, cưới hỏi; bà Năm mới đồng ý cho con thay giống trầu trong vườn. Một sáng đi quanh giàn trầu, chàng rể út nhìn các dây trầu mỡ nhanh lớn, ngọn đâm tua tủa trên giàn, cho lá bản to với màu xanh bóng như thoa mỡ hứa hẹn bội thu; anh ân hận vì không ít lần đã thầm oán trách má vợ mình… lạc hậu, lo sợ sự thay đổi và chậm chấp nhận cái mới. Anh còn trẻ người non dạ thiếu cảm thông với người già thường sống với dĩ vãng, bà Năm đã không nuôi vợ anh trắng da dài tóc từ nguồn lợi của vườn trầu quế đó sao? Nghĩ vậy nên chàng rể út hiếu thảo vội vàng trồng mới mươi nọc trầu quế bên hiên nhà dành riêng cho má vợ mình, vì những chiếc lá hình trái tim thơm nồng với miếng cau, chút vôi là một phần máu thịt của cuộc đời bà và bà sẽ mang theo vào tận nơi an nghỉ cuối cùng của mình, mà bà thì không còn nhiều thời gian.

(*) Liễn trầu (ốp trầu): Từ xưa, mua bán lá trầu tính bằng liễn xếp từng ốp hai mươi bốn, ba mươi sáu hay bốn mươi lá tùy tập quán từng địa phương. Hiện nay, ở nhiều vùng chuyên canh người ta mua bán lá trầu bằng cách cân trọng lượng.

Truyện ngắn: Hồ Việt Khuê .

Nguồn Lâm Đồng: https://baolamdong.vn/chuyen-trau-khong-469727.html