Còn đây dấu tích Tiêu Tương

Không còn trên bản đồ, cũng không còn tư liệu chính thống nào ghi chép trọn vẹn nhưng sông Tiêu Tương vẫn “chảy” mãi trong tiềm thức người Bắc Ninh với câu chuyện tình Trương Chi - Mỵ Nương và trong tiếng ca quan họ.

Dòng sông trong ký ức

Thư tịch cổ nhắc đến sông Tiêu Tương khá sơ lược và còn sự khác biệt giữa các tài liệu về nguồn gốc, vị trí của Tiêu Tương trong hệ thống sông ngòi chằng chịt phía Bắc sông Hồng. Chỉ biết rằng, Tiêu Tương là con sông cổ gắn với vùng đất Kinh Bắc nhưng đã bị bồi lấp từ lâu.

 Dấu tích sông Tiêu Tương ở tổ dân phố Đại Đình, phường Từ Sơn.

Dấu tích sông Tiêu Tương ở tổ dân phố Đại Đình, phường Từ Sơn.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép rằng: “Sông Tiêu Tương ở địa giới phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, phát nguyên từ cái đầm lớn ở xã Phù Lưu, chảy từ phía tây sang phía bắc xã Tiêu Sơn rồi qua địa phận Tiên Du, Quế Dương để nhập vào sông Thiên Đức”. Còn cuốn “Địa chí Hà Bắc” lại cho rằng: “Sông Tiêu Tương bắt nguồn từ hồ Lãng Bạc, chảy qua Tương Giang, Vân Tương và các làng quan họ nổi tiếng như Lim, Bưởi, Ó, Bò… trước khi đổ vào sông Cầu”.

Các nhà nghiên cứu sau này cũng có nhiều giả thuyết khác nhau, trong đó có giả thuyết cho rằng, trước khi đổ về đầm Phù Lưu, Tiêu Tương là một nhánh của sông Hồng, tách ra từ phía Đông Mê Linh, qua phía Bắc Phong Khê, đến gần sát phía Nam Cổ Loa. Dù có nhiều giả thuyết khác nhau nhưng các tư liệu đều chung nhận định dòng chảy của sông Tiêu Tương gắn liền với các xã, phường khu vực Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong (cũ) của Bắc Ninh. Sông tồn tại đến khoảng thế kỷ XV thì biến mất do bị bồi lấp. Ngày nay, dấu tích còn lại chỉ là các ao, hồ, đầm vốn là những khúc sâu của dòng sông chưa bị bồi đắp hết.

Chúng tôi về đầm Phù Lưu (phường Từ Sơn), nơi được cho là một phần còn lại của dòng Tiêu Tương. Bốn bề cây cối xanh tươi, nước đầm nhè nhẹ vỗ bờ. Bà Nguyễn Hải Phượng, một cư dân ở tổ dân phố Phù Lưu cho biết: “Xưa kia đầm rộng lắm, nước rất trong và nhiều tôm cá. Tuy nhiên, cùng với thời gian, lòng đầm đã bị thu hẹp lại nhiều. Tôi cũng nghe cha, ông kể lại rằng đây vốn là một phần của sông Tiêu Tương xưa còn sót lại”.

Họa sĩ Vũ Thành sinh ra và lớn lên ở làng Đại Đình, nay là tổ dân phố Đại Đình, phường Từ Sơn. Ông cho biết: “Trước kia, làng tôi có dãy ao to, dài chạy khắp phía trước, bốn mùa nước trong vắt. Các cụ cao niên trong làng bảo đó là một phần của sông Tiêu Tương xưa, cùng nguồn gốc với dãy ao, hồ chạy dài trước làng Đình Bảng cách đó không xa, khi đó được bà con gọi là sông Đô. Về sau, nhiều đoạn đã bị bồi lấp, trở thành ruộng vườn, những chỗ nước sâu còn lại trở thành ao, hồ”.

Làng giờ đã trở thành phố, tuy nhiên bà con vẫn trân trọng di sản của cha ông. Tại các khu phố vốn là làng Đại Đình và làng Đình Bảng xưa, các ao, hồ đều được nạo vét, kè bờ cẩn thận. Từ hồ Đại Đình băng qua đường, chếch sang vài trăm mét là đền Đô (phường Từ Sơn). Một đoạn của Tiêu Tương còn lại chính là hồ trước cửa đền Đô. Hằng ngày, du khách từ khắp mọi miền Tổ quốc tìm về đền Đô dâng hương tưởng nhớ công ơn của 8 vị vua nhà Lý, sau đó thưởng thức các làn điệu quan họ mượt mà, đằm thắm và giao lưu với các liền anh, liền chị.

Dấu tích sông Tiêu Tương cũng còn lưu tại khu vực phường Đồng Nguyên, phường Tam Sơn ngày nay với các ao Rối, ao Sông, ao Làng, ao Quýt, ao Đầm… và những địa danh gợi nhớ như Cẩm Giang, Tương Giang, Tiêu Sơn, Tiêu Thượng, Tiêu Long…

Mãi vang vọng tiếng gọi đò

Dòng Tiêu Tương không còn chảy nhưng những cái tên Trương Chi, Mỵ Nương, Tiêu Tương đã đi vào tiềm thức của người Bắc Ninh nói riêng, người Việt Nam nói chung và đi vào nhiều áng thơ văn, nhiều vở kịch.

 Một cảnh trong vở diễn "Trương Chi" của Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh.

Một cảnh trong vở diễn "Trương Chi" của Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh.

Dân gian còn mãi lưu truyền câu chuyện tình đẫm lệ giữa chàng trai làm nghề thuyền chài trên sông Tiêu Tương là Trương Chi và nàng Mỵ Nương, con quan thừa tướng. Chuyện kể rằng, chàng Trương Chi có dung mạo xấu xí nhưng tiếng sáo lại hay đến mức ai nghe cũng ngẩn ngơ. Đêm đêm, tiếng sáo theo gió vọng đến tai Mỵ Nương đang cấm cung ở lầu Tây. Nàng say mê tiếng sáo, tương tư người chưa từng gặp mặt rồi sinh bệnh. Khi Trương Chi được mời đến, Mỵ Nương thấy dung mạo chàng không như tưởng tượng, lòng chợt nguội lạnh.

Trương Chi mang nỗi tuyệt vọng, gieo mình xuống dòng sông. Oan hồn chàng kết thành một viên ngọc, về sau được tạc thành chén trà. Mỗi khi rót nước, Mỵ Nương lại thấy trong chén thấp thoáng bóng thuyền chài và nghe văng vẳng tiếng sáo. Nàng xúc động rơi lệ, giọt nước mắt rơi xuống làm chén tan thành nước. Mối tình lỡ làng ấy để lại cho hậu thế nhiều thương cảm.

Xẩm chợ Bắc Ninh lưu truyền bài hát “Ngày xưa có anh Trương Chi” nói về chuyện tình này: “Ngày xưa có anh Trương Chi/ Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay/ Cô Mỵ Nương người ở lầu Tây/ Con quan thừa tướng ngày rày cấm cung/ Anh Trương Chi ở dưới dòng sông/ Chở đò ngang dọc suốt đêm đông anh dãi dầu/ Đêm thanh chàng hát một câu/ Gió đưa thoang thoảng đến lầu cô Mỵ Nương…”.

Vừa qua, Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh công diễn vở kịch hát “Trương Chi”. Vẫn câu chuyện về mối tình ấy, các làn điệu quan họ được đưa vào từng phân đoạn, lời ca cất lên trong từng tình huống đều hợp cảnh, hợp tình, hợp mạch cảm xúc. Những làn điệu quen thuộc như “Ngồi tựa mạn thuyền”, “Đêm qua nhớ bạn”, “Nhớ mãi khôn nguôi” khi cất lên giữa cảnh sông nước càng khắc họa rõ nét nỗi nhớ nhung, mong ngóng, khát khao của người đang tương tư. Cao trào của vở diễn là khi giai điệu “Tương phùng tương ngộ” vang lên rồi chùng xuống đúng lúc chàng Trương Chi gieo mình xuống sông, đẩy nỗi đau của một mối tình lỡ làng lên đến tận cùng.

Dòng Tiêu Tương tuy không còn hình bóng nhưng vẫn còn mãi trong tâm trí của người Bắc Ninh, vẫn song hành cùng câu quan họ. Mỗi khi làn điệu “Gọi đò” vang lên, hẳn ai đó lại liên tưởng đến tiếng lòng của chàng Trương Chi, nàng Mỵ Nương khi xưa. Tiếng gọi đò ấy như vọng qua mấy trăm năm, xuôi theo một dòng sông mãi còn trong ký ức.

Vân Giang

Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/con-day-dau-tich-tieu-tuong-postid456447.bbg