Điều gì đang chờ đợi nền kinh tế trong quý IV?

Tăng trưởng kinh tế 2026 của Việt Nam nhiều khả năng sẽ vượt đáng kể mức 8% của năm ngoái nhưng vẫn phải đối mặt với một số rủi ro.

Một trong những yếu tố Việt Nam cần lưu ý sắp tới là lạm phát. Ảnh: Hoàng Anh

Một trong những yếu tố Việt Nam cần lưu ý sắp tới là lạm phát. Ảnh: Hoàng Anh

Trước kết quả tăng trưởng tích cực vượt kỳ vọng trong quý III/2026 cùng với việc điều chỉnh tăng số liệu của nửa đầu năm, Bộ phận Nghiên cứu thị trường và kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) mới đây đã nâng dự báo tăng trưởng GDP năm 2026 của Việt Nam lên 9,2% từ mức 8,5% trước đó.

Dự báo này hàm ý tăng trưởng trong quý IV này đạt khoảng 9,7%, được hỗ trợ bởi việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công vào cuối năm, mùa cao điểm xuất khẩu và dòng vốn FDI ở mức kỷ lục. 

Theo báo cáo của UOB, mức dự báo cũng phản ánh khả năng quý IV năm nay tăng trưởng chậm lại so với quý trước trong bối cảnh nền so sánh của quý IV/2025 ở mức cao (8,46%) và số lượng đơn hàng xuất khẩu có dấu hiệu sụt giảm.

Đối với năm 2027, dự báo tăng trưởng được nâng lên mức 8,8% (từ mức 8,4% trước đó) khi dòng vốn FDI đăng ký hiện nay dần chuyển hóa thành năng lực sản xuất thực tế. Cùng với đó là các động lực cải cách từ Nghị quyết 19-NQ/TW ban hành ngày 28/7/2026, tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng, nâng cấp công nghiệp và phát triển các ngành sản xuất có giá trị gia tăng cao… 

“Để đạt mục tiêu tăng trưởng chính thức 10% của năm 2026, nền kinh tế sẽ cần tăng trưởng khoảng 12,5 - 13% trong quý IV/2026, một mức mà chúng tôi cho rằng vẫn khó đạt được”, bộ phận nghiên cứu của UOB lưu ý.

Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu cũng cho rằng, tăng trưởng kinh tế năm 2026 nhiều khả năng sẽ vượt đáng kể mức 8% của năm 2025.

Các rủi ro chính đối với triển vọng tăng trưởng bao gồm giá năng lượng tăng mạnh do xung đột Mỹ - Iran chưa được giải quyết, Mỹ áp dụng các biện pháp thuế quan nghiêm ngặt hơn sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026, các hạn chế về nguồn cung điện và hạ tầng cũng như nguy cơ chậm giải ngân đầu tư công.

Tổ chức Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN + 3 (AMRO) trong báo cáo thường niên về Việt Nam công bố cuối tháng 9 vừa qua, lưu ý rằng, việc Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao ngày càng đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn khi rủi ro bên ngoài gia tăng. 

Sự gia tăng bất ổn chính sách thương mại, rủi ro địa chính trị leo thang và sự biến động của cầu bên ngoài làm gia tăng khả năng bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. 

Việc đạt được mục tiêu này đòi hỏi mô hình tăng trưởng phải bớt phụ thuộc vào các điều kiện cầu theo chu kỳ và dựa nhiều hơn vào năng lực sản xuất nền tảng của nền kinh tế, đặc biệt là dư địa cho sự tích lũy vốn liên tục và các động lực cấu trúc bền vững.

Áp lực với chính sách tiền tệ

Theo bộ phận nghiên cứu của UOB, đối với Ngân hàng Nhà nước (NHNN), bài toán đánh đổi chính sách đang ngày càng trở nên rõ nét hơn. Lạm phát hiện đã vượt mức trần mục tiêu 4,5%, tăng trưởng tín dụng đang cao hơn tăng trưởng huy động và tốc độ tăng trưởng kinh tế đang tiến gần mức hai chữ số.

Điều này làm gia tăng đáng kể áp lực thắt chặt chính sách tiền tệ, đặc biệt trong bối cảnh Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) được dự báo tiếp tục nâng lãi suất. 

Dù vậy, việc thắt chặt tiền tệ có thể không mang lại nhiều hiệu quả trong việc kiềm chế các áp lực lạm phát chủ yếu đến từ phía cung, đồng thời có nguy cơ làm suy giảm động lực tăng trưởng kinh tế. 

Trong kịch bản cơ sở, nhóm nghiên cứu tiếp tục kỳ vọng NHNN sẽ giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5% đến hết năm 2027, đồng thời sử dụng các công cụ thị trường mở và hạn mức tăng trưởng tín dụng để điều tiết thanh khoản. “Tuy nhiên, rủi ro hiện đã nghiêng nhiều hơn về khả năng tăng lãi suất”, nhóm lưu ý. 

Tính đến ngày 2/10, đồng Việt Nam đã tăng khoảng 1% so với đầu năm, giao dịch quanh mức 25.987 VND/USD. Tuy nhiên, sự ổn định này chủ yếu nhờ các biện pháp điều hành của NHNN. Khi Fed đã nâng lãi suất lên 4% trong tháng 9/2026 và được dự báo tiếp tục tăng thêm hai lần nữa trước quý I/2027, chênh lệch lãi suất 50 điểm cơ bản giữa Việt Nam và Mỹ sẽ dần thu hẹp, khiến tỷ giá VND dễ bị tác động hơn bởi các dòng vốn đầu tư gián tiếp. 

Dù vậy, việc cán cân thương mại quay lại thặng dư, dòng vốn FDI ở mức kỷ lục và tốc độ tăng trưởng GDP trên 9% sẽ tiếp tục hỗ trợ sự ổn định của đồng nội tệ.

Phương Anh

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/dieu-gi-dang-cho-doi-nen-kinh-te-trong-quy-iv-d48001.html