Nghệ An đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 thu hút khoảng 6 - 8 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký; trong đó, vốn thực hiện đạt khoảng 5 - 6,5 tỷ USD.
Bộ Công Thương đang tổ chức lấy ý kiến về dự thảo Kế hoạch hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra triết lý quản trị không gian hoàn toàn mới: Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, chuyển tư duy quản lý dựa trên địa giới hành chính sang kiến tạo, dẫn dắt và khơi thông nguồn lực dựa trên các hệ sinh thái tích hợp.
Triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 280/NQ-CP của Chính phủ, Việt Nam cần chuyển từ thu hút vốn đơn thuần sang lựa chọn dự án có chất lượng, đồng thời chuẩn bị thể chế, hạ tầng, nhân lực và cơ chế thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây là điều kiện để dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ đóng góp vào sản xuất, xuất khẩu mà còn tạo giá trị gia tăng và góp phần củng cố nội lực nền kinh tế.
Những năm gần đây, với lợi thế về nguồn lao động dồi dào, môi trường đầu tư-kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ, tỉnh Nghệ An đang ở trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tư duy phát triển kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Đảng.
Điều Việt Nam cần không dừng ở quy mô dòng vốn, mà là khả năng dòng vốn ấy bén rễ vào nền kinh tế, kết nối chuỗi cung ứng, nâng cao năng lực doanh nghiệp và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Theo các chuyên gia, không phải ngẫu nhiên mà những đô thị thành công nhất châu Á như Singapore, Thượng Hải hay Dubai đều lựa chọn dịch vụ làm động lực phát triển cốt lõi. Trong nền kinh tế số, giá trị ngày càng được tạo ra từ tài chính, logistics, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo hơn là từ các dây chuyền sản xuất truyền thống. TP Hồ Chí Minh đang đứng trước cơ hội lịch sử để tham gia vào cuộc đua đó.
Thu hút FDI không chỉ dừng ở việc gia tăng dòng vốn, mà quan trọng hơn là tạo ra giá trị lan tỏa cho nền kinh tế. Theo bà Bùi Thu Thuỷ - Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), Việt Nam đang từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thu hút các dự án chất lượng cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Với tỷ lệ lấp đầy tại các khu chế xuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) đang hoạt động vượt 80%, trong khi nhiều khu đã vận hành khoảng 30 năm, TP.Hồ Chí Minh đang đứng trước yêu cầu tái cấu trúc không gian công nghiệp. Chuyển đổi các KCN hiện hữu theo hướng sinh thái, tuần hoàn, thông minh được kỳ vọng vừa nâng hiệu quả sử dụng đất, vừa tạo dư địa thu hút dòng vốn FDI công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn.
Sau hợp nhất, Cần Thơ cần đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy vai trò doanh nghiệp đầu tàu, huy động vốn và kết nối hạ tầng để trở thành đầu mối điều phối kinh tế vùng.
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Hà Nội đã vượt mốc 4 tỷ USD và hoàn thành hơn 90% kế hoạch năm sau 9 tháng. Không chỉ là số lượng, Hà Nội đang cho thấy những nỗ lực trong việc từng bước xác lập vị thế trung tâm công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và dịch vụ chất lượng cao của cả nước và hướng tới hiện thực hóa mục tiêu 25 tỷ USD vốn ngoại trong giai đoạn 2026–2030.
Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống khu công nghiệp (KCN) Hà Nội, không chỉ để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, mà còn nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, hiệu quả sử dụng đất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Doanh nghiệp nội vẫn khó chen chân vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chi phí sản xuất cao, thiếu vốn, hạn chế về công nghệ và quy mô khiến nhiều doanh nghiệp Việt chưa thể trở thành nhà cung ứng của các tập đoàn FDI.
Việt Nam sẽ không cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) bằng mọi giá hay thuần túy dựa trên số lượng, thay vào đó là kiến tạo một hệ sinh thái đầu tư chất lượng cao, gắn kết chặt chẽ với nội lực nền kinh tế…
Nghị quyết số 10-NQ/TW hướng tới tháo gỡ điểm nghẽn, tăng liên kết FDI với doanh nghiệp Việt, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng giá trị nội địa.
Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương, Việt Nam không thu hút FDI bằng mọi giá mà sẽ lựa chọn đối tác để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam không thu hút FDI bằng mọi giá, mà sẽ lựa chọn đối tác để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam thu hút FDI không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực, để nâng cao năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Ngày 8/10, dưới sự bảo trợ của Bộ Tài chính, tại Hà Nội, Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức Tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu”. Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương tham dự và phát biểu tại sự kiện.
Tính đến hết tháng 9 năm 2026, Hà Nội đã thu hút hơn 4,07 tỷ USD vốn FDI, đạt khoảng 90,38% kế hoạch cả năm (4,5 tỷ USD) và tạo đà khả quan cho chặng nước rút cuối năm.
Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào TP Hồ Chí Minh đang có sự chuyển dịch rõ hơn về lĩnh vực và chất lượng. Bên cạnh các dự án sản xuất, nhiều nhà đầu tư đang quan tâm đến logistics, cảng biển, hạ tầng số, công nghệ cao và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, phù hợp với định hướng phát triển mới của thành phố.
9 tháng của năm 2026, thành phố Ðồng Nai duy trì vị trí tốp 10 tỉnh, thành thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất cả nước với gần 2,4 tỷ USD, đạt gần 80% kế hoạch năm 2026.
Hà Nội đang hướng tới thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc, chú trọng chất lượng công nghệ, năng lực nghiên cứu, nguồn nhân lực và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Đồng Nai là một trong những địa phương phát triển công nghiệp sớm, có nền tảng sản xuất, lao động kỹ thuật, cộng đồng doanh nghiệp FDI và chuỗi cung ứng lớn.
Trước sự dịch chuyển của dòng vốn toàn cầu, các chính sách nhằm tạo động lực thu hút FDI của Việt Nam cần thay đổi để kéo được các dự án công nghệ chiến lược, nghiên cứu và phát triển (R&D), mang giá trị gia tăng cao và có tính lan tỏa với khu vực kinh tế trong nước.
Vốn tín dụng đang tăng mạnh tại những địa bàn tập trung nhiều khu công nghiệp, doanh nghiệp FDI và công nghiệp hỗ trợ. Khi quy mô sản xuất tiếp tục được mở rộng, dòng vốn từ các ngân hàng cũng có thêm dư địa bám sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngày 8-6-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đặt mục tiêu thu hút đăng ký 200-300 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giai đoạn 2026-2030 và đưa khu vực này đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2045.
Gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân là khoảng thời gian đủ để thấy được những chuyển biến của khu vực kinh tế tư nhân Thanh Hóa. Từ thực tiễn có thể rút ra những kinh nghiệm ý nghĩa đối với quá trình xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn phát triển mới.
Dòng vốn FDI tăng mạnh đang tạo thêm động lực cho thị trường bất động sản công nghiệp tại Việt Nam, khi nhu cầu thuê đất, nhà xưởng và kho bãi ngày càng gia tăng, đặc biệt là từ các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, AI và trung tâm dữ liệu.
Trong chuỗi cung ứng toàn cầu đang được sắp xếp lại, Việt Nam không còn chỉ là nơi gia công chi phí thấp. Với các doanh nghiệp Đức, vốn quen đặt cơ sở sản xuất gần nhà cung cấp và khách hàng, Việt Nam đã trở thành điểm tựa thứ hai bên cạnh Trung Quốc và là thị trường tiêu thụ đang lớn dần. Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Đức tại Việt Nam (AHK Vietnam), kim ngạch thương mại hai chiều năm 2024 vượt 18,8 tỷ euro.
Thứ trưởng Lê Văn Tuyến khẳng định, cần tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho quản lý, thu hút vốn đầu tư nước ngoài gắn với giữ vững tự chủ chiến lược, nâng cao năng lực phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới, góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, phục vụ đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…
Với hạ tầng đồng bộ, môi trường đầu tư thông thoáng cùng tư duy chuyển mạnh từ "giải quyết thủ tục hành chính" sang "đồng hành cùng nhà đầu tư", thành phố Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao.
Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới cùng Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã mở ra định hướng mới cho chiến lược thu hút FDI của Hà Nội.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư được Bộ Tài chính xây dựng với nhiều chính sách mới nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi và nâng cao hiệu quả đóng góp của khu vực FDI đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi, cần làm rõ tiêu chí ưu đãi, công bằng và kiểm soát chặt chẽ nguồn lực hỗ trợ.
Ninh Bình đẩy mạnh thu hút đầu tư công nghệ cao, phát triển công nghiệp xanh, sản xuất thông minh, hướng tới tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong tháng 9/2026, thành phố Hải Phòng thu hút 180,6 triệu USD vốn FDI, bằng 68,4% so với cùng kỳ năm trước nhưng vượt đáng kể kịch bản đề ra là 130 triệu USD.
Cùng với việc hoàn thiện hạ tầng, Quảng Ninh đang từng bước nâng cao sức hấp dẫn của các khu công nghiệp, hướng tới thu hút những dự án có quy mô lớn, công nghệ hiện đại và giá trị gia tăng cao.
Dòng vốn FDI chảy vào Hải Phòng đang dịch chuyển mạnh. Trước những tiêu chuẩn khắt khe từ thế hệ nhà đầu tư mới, hệ sinh thái công nghiệp thành phố đòi hỏi sự thay đổi toàn diện để thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
9 tháng đầu năm 2026, vốn FDI đăng ký vào TP.HCM đạt hơn 17,2 tỷ USD, tăng hơn 4 lần so với cùng kỳ năm 2025 và vượt 56,6% so với mục tiêu thu hút 11 tỷ USD của cả năm. Tổng vốn đầu tư nước ngoài lũy kế trên địa bàn đạt hơn 156,72 tỷ USD.
Việc thu hút vốn FDI hiện nay không còn dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế. Cuộc cạnh tranh đang chuyển sang chất lượng thể chế, năng lực đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực, hạ tầng và sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp trong nước.
FDI vào TP.HCM tăng mạnh, kéo theo nhu cầu nhân lực chất lượng cao, nhưng nhà ở, giao thông và tiện ích cho chuyên gia vẫn là bài toán cần giải quyết.
TP Hồ Chí Minh đang mở rộng không gian phát triển, hình thành các cực tăng trưởng mới và thu hút dòng vốn vào những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ, tri thức cao. Cùng với yêu cầu nâng chất lượng dòng vốn FDI, thành phố cũng phải giải bài toán nhân lực, từ thu hút chuyên gia, kỹ sư, nhà quản lý đến xây dựng môi trường sống và làm việc đủ sức giữ chân đội ngũ này. Đây là nội dung được đặt ra tại tọa đàm “TP Hồ Chí Minh: Bài toán thu hút nhân lực tinh hoa quốc tế cho kỷ nguyên tăng trưởng mới” do Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ tổ chức ngày 30/9.
Trong cuộc cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế, mức ưu đãi thuế không còn là yếu tố duy nhất quyết định lựa chọn của nhà đầu tư. Với những doanh nghiệp FDI đã hiện diện tại Việt Nam, tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo của chính sách thuế ngày càng có ý nghĩa đối với quyết định duy trì, mở rộng sản xuất, kinh doanh và đầu tư dài hạn.
Dòng vốn FDI thế hệ mới đang thay đổi cuộc chơi thu hút đầu tư tại Việt Nam khi nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến đất sạch, giá thuê hay ưu đãi, mà còn đòi hỏi hạ tầng đồng bộ, năng lượng sạch, logistics, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
Sáng 29/9, tại Hải Phòng, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance phối hợp cùng Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng tổ chức hội thảo “Khơi dòng tài chính bất động sản khu công nghiệp: Đón sóng đầu tư trong kỷ nguyên tăng trưởng mới”.
Sau hơn 9 tháng, dòng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tại TP.Hồ Chí Minh đã vượt xa mục tiêu cả năm, trong đó nhiều dự án quy mô hàng tỷ USD đang tập trung vào cảng biển, logistics, hạ tầng số và trí tuệ nhân tạo.
Nhu cầu vốn dài hạn, hạ tầng đồng bộ và tiêu chuẩn FDI thế hệ mới đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế tài chính, tháo gỡ điểm nghẽn đất đai và nâng cao chất lượng hệ sinh thái khu công nghiệp.