Giảm rủi ro nuôi trồng thủy sản trước tác động từ El Nino
Việc kết hợp dự báo nguồn nước với phương án sản xuất cụ thể sẽ giúp người dân nuôi trồng thủy sản chủ động điều chỉnh kế hoạch, giảm thiểu thiệt hại trước những diễn biến bất lợi của khí hậu.

Đảm bảo nguồn nước cho nuôi trồng thủy sản. Ảnh minh họa: Thanh Hòa - TTXVN
Đối diện nguy cơ El Nino gây thiếu hụt nguồn nước, gia tăng xâm nhập mặn và biến động môi trường nuôi, ngành thủy sản đang tập trung rà soát vùng nuôi có nguy cơ bị ảnh hưởng, điều chỉnh lịch thời vụ, mật độ và phương thức sản xuất, đồng thời tăng cường quan trắc, cảnh báo môi trường nhằm giảm thiểu thiệt hại cho người nuôi.
Trước đó, nhằm chủ động ứng phó nguy cơ thiếu hụt nguồn nước do ảnh hưởng của El Nino, trên cơ sở báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trưởng, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tổ chức theo dõi, cập nhật tình hình thời tiết, thiên tai, chủ động triển khai các nhiệm vụ, giải pháp ứng phó thiên tai và tác động của El Nino, không để ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, đời sống nhân dân và tăng trưởng.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng cũng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng cường công tác dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn, bổ sung bản tin dự báo chuyên đề phục vụ điều tiết, vận hành hồ chứa thủy lợi, thủy điện, phòng, chống hạn, mặn, nhất là tại các khu vực có nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng và công bố kịch bản, phương án điều hòa, phân phối nguồn nước các lưu vực sông, đặc biệt là các sông ở khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ theo quy định....
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nếu El Nino diễn biến mạnh và kéo dài, lượng mưa thiếu hụt, dòng chảy mùa khô suy giảm, xâm nhập mặn xuất hiện sớm, lấn sâu và kéo dài sẽ gây áp lực lớn đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản. Các vùng nuôi nước ngọt tại khu vực có nguy cơ xâm nhập mặn sẽ đối mặt với rủi ro thiếu nguồn nước cấp; trong khi vùng nuôi mặn, lợ có thể chịu biến động mạnh về độ mặn, nhiệt độ và chất lượng nước, làm tăng chi phí cấp, xử lý và thay nước.
Biến động môi trường nước cũng làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh, thủy sản chết, ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất. Trong điều kiện nguồn nước không bảo đảm, việc duy trì mật độ nuôi cao hoặc thả giống không phù hợp có thể khiến rủi ro thiệt hại gia tăng. Một số khu vực có thể phải giãn vụ, giảm mật độ, thu hoạch sớm hoặc chuyển đổi đối tượng, phương thức nuôi để thích ứng.
Các nghiên cứu về thiệt hại do thiên tai đến năm 2030 cho thấy, trong điều kiện năm ít nước và chưa tính đến tác động giảm thiểu của hệ thống đê điều, công trình thủy lợi, diện tích nuôi trồng thủy sản có nguy cơ bị thiệt hại có thể lên tới khoảng 67.534 ha, tương ứng giá trị thiệt hại khoảng 871,8 tỷ đồng. Rủi ro tập trung chủ yếu tại Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 839.400 ha.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường lưu ý, đây là kết quả dự báo dài hạn, chưa phải dự báo trực tiếp cho mùa khô 2026-2027. Tuy nhiên, số liệu cho thấy quy mô rủi ro tiềm tàng đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản khi xảy ra thiếu nước, xâm nhập mặn, đòi hỏi các địa phương và người nuôi chủ động xây dựng phương án ứng phó từ sớm.
Theo Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước Ngô Mạnh Hà, Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có tổng lượng nước mặt và nhu cầu sử dụng nước lớn nhất cả nước, nhưng cũng đặc biệt nhạy cảm với El Nino do phụ thuộc gần 95% vào nguồn nước từ thượng lưu sông Mê Công. Trong khi đó, khu vực hạ lưu thiếu các hồ chứa điều tiết có dung tích lớn, khiến khả năng chủ động ứng phó khi dòng chảy suy giảm còn hạn chế.
Nếu dòng chảy trên sông Tiền, sông Hậu giảm 40-60%, kết hợp với xâm nhập mặn có độ mặn 4 g/l lấn sâu từ 40-70 km, nguy cơ thiếu nước sẽ gia tăng, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt. Các khu vực ven biển thuộc hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít, Bắc Bến Tre, Nam Bến Tre và Gò Công được đánh giá có nguy cơ chịu tác động lớn khi xảy ra hạn hán, thiếu nước. Đáng chú ý, hệ thống Gò Công có khả năng ngăn mặn nhưng gặp khó khăn do thiếu nguồn bổ cập nước ngọt từ thượng nguồn.
Tình trạng thiếu nước cả về số lượng và chất lượng có thể xảy ra tại các khu vực ven biển và một số địa bàn thuộc Tây Ninh, Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ. Đây là những yếu tố cần được tính đến khi bố trí mùa vụ, lựa chọn đối tượng nuôi và tổ chức sản xuất thủy sản, nhất là tại các vùng nuôi phụ thuộc trực tiếp vào nguồn nước tự nhiên.
Trước nguy cơ trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng rà soát, xác định các vùng nuôi có nguy cơ chịu tác động của hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn; phân vùng theo điều kiện sinh thái và mức độ rủi ro để xây dựng phương án sản xuất phù hợp với từng kịch bản nguồn nước. Lịch thời vụ, mật độ, đối tượng và phương thức nuôi cần được điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến nguồn nước và điều kiện môi trường. Các địa phương cần khuyến cáo không mở rộng diện tích, không thả giống tại những khu vực chưa bảo đảm nguồn nước cấp.

Cần phát triển nuôi tôm công nghệ cao, tuần hoàn để tiết kiệm nguồn nước. Ảnh minh họa: Thanh Hòa - TTXVN
Cùng với đó, việc quan trắc, cảnh báo môi trường tại các vùng nuôi tập trung và khu vực có nguy cơ cao cần được tăng cường. Bộ định hướng kết hợp thông tin quan trắc với dự báo khí tượng thủy văn, nguồn nước và xâm nhập mặn để gắn cảnh báo với khuyến cáo cụ thể về thời điểm lấy nước, thay nước, thả giống, điều chỉnh mật độ và thu hoạch. Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường được triển khai theo Quyết định số 966/QĐ-BNNMT ngày 23/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Ngành thủy sản cũng khuyến khích ứng dụng thiết bị đo tự động, cảm biến và hệ thống truyền dữ liệu theo thời gian thực tại các vùng nuôi trọng điểm, giúp thông tin cảnh báo được chuyển nhanh đến cơ quan quản lý, hợp tác xã và cơ sở nuôi. Việc áp dụng công nghệ nuôi tuần hoàn, bán tuần hoàn, tiết kiệm nước, xử lý và tái sử dụng nước sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn nước cấp mới.
Trong thời kỳ nắng nóng, thiếu nước và độ mặn biến động, người nuôi cần tăng cường giám sát sức khỏe thủy sản, sử dụng con giống có chất lượng, nguồn gốc rõ ràng, kiểm soát thức ăn, chất thải và nền đáy ao nuôi. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường, cần phối hợp với cơ quan chuyên môn xác định nguyên nhân, xử lý kịp thời; không xả nước từ ao nuôi bị bệnh hoặc ô nhiễm chưa qua xử lý ra môi trường. Tại các vùng có nguy cơ cao, cần giảm mật độ nuôi hoặc thu hoạch sớm đối với diện tích đã đạt kích cỡ thương phẩm khi xuất hiện cảnh báo bất lợi.
Về lâu dài, ngành thủy sản cần lựa chọn đối tượng nuôi có khả năng thích nghi tốt với điều kiện môi trường, phát triển công nghệ tiết kiệm nước và các mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị. Những mô hình phù hợp với điều kiện sinh thái như tôm - lúa, tôm - rừng, quảng canh cải tiến, nuôi nhiều giai đoạn và nuôi an toàn sinh học cần được khuyến khích nhân rộng tại những khu vực đáp ứng điều kiện.
Đối với việc chuyển đổi đất nông nghiệp bị nhiễm mặn sang nuôi trồng thủy sản, các địa phương cần thực hiện theo quy hoạch, bảo đảm hạ tầng cấp, thoát nước và hạn chế xung đột giữa vùng nuôi nước mặn, lợ với khu vực sản xuất nước ngọt.
Việc kết hợp dự báo nguồn nước với phương án sản xuất cụ thể cho từng vùng nuôi sẽ giúp người dân chủ động điều chỉnh kế hoạch, giảm thiểu thiệt hại và nâng cao khả năng chống chịu của ngành thủy sản trước những diễn biến bất lợi của khí hậu.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/giam-rui-ro-nuoi-trong-thuy-san-truoc-tac-dong-tu-el-nino/440490.html
