Hải quan và Thuế thông tin hướng xử lý vướng mắc của doanh nghiệp ngành gỗ
Đại diện Hải quan và Thuế đã trao đổi tháo gỡ vướng mắc về hồ sơ nhập khẩu gỗ, phân loại hàng hóa, hoàn thuế VAT và chính sách thuế đối với một số sản phẩm gỗ, nhằm thống nhất cách áp dụng và hỗ trợ doanh nghiệp.
Ngày 14/10, tại hội thảo với cộng đồng doanh nghiệp ngành gỗ, ông Nguyễn Chí Thanh - Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ, Chi cục Hải quan khu vực II cho biết, các nội dung được doanh nghiệp phản ánh tập trung vào bốn nhóm vấn đề: hồ sơ nhập khẩu gỗ; tiêu chí phân loại gỗ sơ chế thông thường và gỗ rừng trồng; cơ chế xử lý khoản VAT đã nộp tại khâu nhập khẩu đối với hàng hóa sau đó được xác định không thuộc đối tượng chịu thuế; và thuế xuất khẩu đối với ván veneer.
Theo ông Thanh, ngày 6/10, Chi cục Hải quan khu vực II đã nhận được văn bản của Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) phản ánh các vướng mắc. Chi cục đã báo cáo Cục Hải quan và đến ngày 21/10, Cục Hải quan ban hành Công văn trả lời về hồ sơ nhập khẩu, tiêu chí xác định nguồn gốc gỗ và chính sách VAT. Doanh nghiệp có thể tham khảo nội dung văn bản trên website của Chi cục Hải quan khu vực II.

Ông Nguyễn Chí Thanh, Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ, Chi cục Hải quan khu vực II chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: An Nhi.
Đại diện Chi cục hải quan khu vực II cho biết thêm, một trong những nguyên nhân dẫn đến các vướng mắc hiện nay là quy định chưa làm rõ tiêu chí xác định thế nào là gỗ sơ chế thông thường và gỗ rừng trồng. Việc thiếu tiêu chí cụ thể khiến quá trình xác định loại hàng hóa, áp dụng chính sách thuế và xử lý hóa đơn phát sinh khó khăn.
Để tháo gỡ từ gốc, ông Thanh đề nghị Hiệp hội phối hợp với doanh nghiệp xây dựng bộ tiêu chí kỹ thuật cụ thể đối với từng loại gỗ và công đoạn chế biến. Chẳng hạn, đối với gỗ đã qua ngâm tẩm hoặc sấy khô, cần làm rõ các thông số kỹ thuật liên quan đến hóa chất sử dụng, nhiệt độ và thời gian sấy. Những tiêu chí này cần được kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét đưa vào quy định làm căn cứ phân loại.
Đối với gỗ rừng trồng nhập khẩu, doanh nghiệp cần có bộ tiêu chí rõ ràng để chứng minh nguồn gốc, bên cạnh các chứng từ như chứng nhận FSC, giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) và tài liệu do cơ quan có thẩm quyền tại nước xuất khẩu cấp. Theo ông Thanh, tiêu chí càng cụ thể thì việc kiểm tra, xác định chính sách thuế càng minh bạch, hạn chế cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Về khoản VAT đã nộp tại khâu nhập khẩu, đại diện Chi cục Hải quan khu vực II cho rằng, cần làm rõ căn cứ phân loại hàng hóa để xác định chính xác nghĩa vụ thuế. Trên cơ sở kết quả xác định và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, những trường hợp thuộc diện không chịu thuế sẽ được xem xét xử lý khoản thuế đã nộp theo quy định và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Đối với kiến nghị miễn hoặc điều chỉnh thuế xuất khẩu mặt hàng veneer gỗ trang trí, Hiệp hội và doanh nghiệp cần cung cấp số liệu thực tế về quá trình sản xuất, tỷ lệ thu hồi sản phẩm và nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Đây sẽ là cơ sở để cơ quan tham mưu chính sách xem xét phương án thuế phù hợp với đặc thù sản xuất, chế biến của ngành.
Liên quan đến việc hoàn VAT đã nộp tại khâu nhập khẩu, bà Lâm Thanh Hồng - Phó phòng Nghiệp vụ Dự toán, Thuế TP. Hồ Chí Minh cho biết, trường hợp cơ quan Hải quan xác định lô hàng thuộc đối tượng phải nộp VAT nhập khẩu thì cơ quan thuế sẽ thực hiện thủ tục hoàn thuế theo quy định khi doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ điều kiện.
Đối với những trường hợp bị từ chối hoàn thuế hoặc phải điều chỉnh số lượng lớn hóa đơn do xác định chưa đúng đối tượng chịu thuế, bà Hồng đề nghị HAWA tổng hợp các vướng mắc thành văn bản, nêu rõ từng trường hợp và kiến nghị phương án xử lý. Trên cơ sở đó, Thuế TP. Hồ Chí Minh sẽ báo cáo Bộ Tài chính xem xét cơ chế tháo gỡ, đồng thời hướng dẫn việc phối hợp giữa cơ quan Thuế và Hải quan đối với các hồ sơ tồn đọng./.

