Sáu ưu tiên củng cố y tế cơ sở

Y tế cơ sở (bao gồm y tế tuyến xã, phường, thị trấn và y tế thôn, bản) là tuyến y tế gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân đều được chăm sóc sức khỏe ban đầu với chi phí thấp, hiệu quả cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ.

Khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Trạm y tế xã Chiềng Ơn (Quỳnh Nhai, Sơn La).

Khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Trạm y tế xã Chiềng Ơn (Quỳnh Nhai, Sơn La).

Ngay những năm đầu hòa bình lập lại, Ðảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm xây dựng mạng lưới y tế cơ sở với sự hình thành các trạm y tế xã, phường ở miền bắc. Trạm y tế xã ban đầu là tổ chức dân lập, hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn tài chính của các hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp để cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu miễn phí cho toàn dân. Sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, Chính phủ đã ra nghị quyết thành lập Tổ chức y tế địa phương, trạm y tế xã trở thành một đơn vị chính thức trong mạng lưới tổ chức hệ thống y tế Việt Nam. Ðầu tư cho y tế cơ sở gắn với chăm sóc sức khỏe (CSSK) ban đầu và y tế dự phòng là chiến lược trước mắt cũng như lâu dài, không chỉ của các nước nghèo mà cả các nước phát triển. Ðây là một trong những chiến lược CSSK đỡ tốn kém, hiệu quả lâu dài và bền vững nhất.

Ðến nay, 98,9% số xã trên toàn quốc đã có trạm y tế; 80% số xã, phường đã đạt Chuẩn quốc gia về y tế xã theo Quyết định số 370/2002/QÐ-BYT của Bộ Y tế áp dụng cho giai đoạn 2001-2010; gần 80% số trạm y tế có bác sĩ làm việc; 95,3% số trạm y tế có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi. Nhiều trạm y tế được xây dựng khang trang, sạch đẹp; được cấp các trang, thiết bị y tế cơ bản như siêu âm, điện tim, máy xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm sinh hóa, máy đo đường huyết... Các trạm y tế cơ bản bảo đảm đủ thuốc thiết yếu phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân. Mạng lưới y tế thôn, bản ngày càng được phát triển, 96,9% số thôn, bản ở khu vực nông thôn, miền núi đã có nhân viên y tế hoạt động. Chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tế tuyến cơ sở đã được cải thiện đáng kể thông qua các chế độ quy định tại Nghị định số 64/2009/NÐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 75/2009/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhờ đó, nhân viên y tế tuyến cơ sở đã yên tâm công tác. Ðể nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ y tế tuyến xã, năm 2011, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3447/QÐ-BYT về Bộ tiêu chí quốc gia y tế xã áp dụng cho giai đoạn 2011-2020. Qua thực tế triển khai, Bộ Y tế sẽ có hướng dẫn bổ sung để các tiêu chí này mang tính thực tiễn, khả thi, phù hợp hơn nữa với điều kiện cụ thể từng vùng, miền, như thành thị, đồng bằng, trung du và miền núi, vùng khó khăn, nhằm nâng cao hiệu quả, tránh đầu tư dàn trải.

Nhờ có mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp, các nội dung CSSK ban đầu và nhiều chương trình y tế quốc gia được triển khai đạt hiệu quả cao như tiêm chủng mở rộng, phòng, chống suy dinh dưỡng, CSSK bà mẹ - trẻ em, dân số - kế hoạch hóa gia đình, giám sát dịch bệnh, phòng, chống một số bệnh không lây nhiễm... Vì vậy, mặc dù còn là một nước thu nhập thấp, nhưng các chỉ số sức khỏe cơ bản của Việt Nam tốt hơn rất nhiều so với mức trung bình của các quốc gia có cùng mức thu nhập. Việt Nam được LHQ đánh giá là một điểm sáng trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về y tế, gồm giảm suy dinh dưỡng trẻ em, giảm tử vong trẻ em, giảm tử vong mẹ, phòng, chống HIV/AIDS, sốt rét, các bệnh phổ biến khác, và vệ sinh môi trường. Hội nghị cấp cao "Kêu gọi hành động vì sự sống còn của trẻ em" tổ chức tại Hoa Kỳ (2012) đã đánh giá Việt Nam là một trong 8/74 quốc gia đạt tiến độ thực hiện Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về giảm tử vong trẻ em; một trong số 9/74 quốc gia đạt tiến độ thực hiện về mục tiêu giảm tử vong mẹ; một trong ba nước đạt được mức độ giảm hơn 75% tỷ số tử vong mẹ trong giai đoạn từ 1990 đến 2010. Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt từ năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh từ năm 2005 nhờ Chương trình Tiêm chủng mở rộng được triển khai rất hiệu quả và sản xuất vắc-xin trong nước ngày càng được mở rộng. Có được những thành tựu quan trọng như vậy là nhờ sự đóng góp lớn của mạng lưới y tế cơ sở.

Về khám, chữa bệnh, tại một số tỉnh có tuyến y tế cơ sở phát triển (như Thừa Thiên - Huế, Khánh Hòa...), mỗi ngày một trạm y tế xã đón khoảng từ 50 đến 100 lượt người đến khám bệnh. Tỷ lệ khám, chữa bệnh tại tuyến xã chiếm đến 30-50% tổng số lượt khám, chữa bệnh. Khoảng 80% số trạm y tế xã trên toàn quốc đã triển khai khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với khoảng 20% số thẻ đăng ký khám, chữa bệnh ban đầu tại tuyến xã. Tại các tỉnh có mạng lưới y tế cơ sở phát triển thì không xảy ra tình trạng quá tải trầm trọng ở các bệnh viện tuyến trên. Ngoài ra, y tế cơ sở đóng vai trò rất quan trọng trong công tác truyền thông - giáo dục sức khỏe, nâng cao kiến thức của người dân để bảo vệ sức khỏe, phòng, chống bệnh tật cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, đồng thời triển khai tốt các chương trình y tế quốc gia và kiểm soát các bệnh không truyền nhiễm.

Về những hạn chế, y tế cơ sở hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới. Mô hình bệnh tật thay đổi, dân số phát triển và có xu hướng già hóa, nhu cầu CSSK của nhân dân ngày càng cao, cả về số lượng và chất lượng, trong khi đó, khả năng đáp ứng của y tế cơ sở còn hạn chế. Tình hình dịch bệnh diễn biến ngày càng phức tạp. Các bệnh truyền nhiễm đã giảm rõ rệt, nhưng một số bệnh hiện đang có xu hướng quay trở lại. Các bệnh không nhiễm trùng (tiểu đường, tim mạch, ung thư...), tai nạn, chấn thương ngày càng gia tăng; nhiều bệnh dịch mới, bệnh lạ xuất hiện và diễn biến khó lường. Vì vậy, vai trò của y tế cơ sở ngày càng quan trọng và nhiệm vụ ngày càng nặng nề hơn. Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 950/QÐ-TTg năm 2007 về đầu tư xây dựng trạm y tế xã thuộc vùng khó khăn giai đoạn 2008 - 2010, nhưng trong nhiều năm qua chưa có nguồn đầu tư nào đáng kể dành cho y tế xã. Hiện nay, khoảng một phần ba số trạm y tế trong toàn quốc bị xuống cấp, dột nát, cần được xây dựng mới. Trang, thiết bị y tế thiếu thốn, lạc hậu. Theo điều tra năm 2012 của Viện Chiến lược - Chính sách, Bộ Y tế tại bốn tỉnh Hà Nam, Kiên Giang, Khánh Hòa và Gia Lai, trạm y tế xã chỉ có 66,0% số danh mục trang, thiết bị y tế cần thiết theo quy định của Bộ Y tế. Cán bộ y tế tuyến cơ sở còn thiếu và trình độ hạn chế. Ðội ngũ thầy thuốc gia đình chưa phát triển. Vì vậy, số lượng và chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở còn hạn chế, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với y tế cơ sở, gây tình trạng vượt tuyến, quá tải ở các bệnh viện tuyến trên.

Về giải pháp, để đáp ứng nhu cầu CSSK nhân dân trong thời gian tới, việc tăng cường mạng lưới y tế cơ sở là rất cần thiết. Tăng cường y tế cơ sở là điều kiện thiết yếu để bảo đảm chăm sóc ban đầu, tiến đến mục tiêu bao phủ CSSK toàn dân, góp phần giải quyết triệt để và bền vững tình trạng quá tải bệnh viện và bảo đảm công bằng trong CSSK.

Trước hết, cần tăng cường nhận thức và trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với y tế cơ sở; xác định rõ việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác tăng cường mạng lưới y tế cơ sở là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp chính quyền địa phương cần triển khai; phải đưa mục tiêu, nhiệm vụ về tăng cường y tế cơ sở vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội các cấp, bảo đảm nguồn lực để thực hiện, có sự phân công trách nhiệm cụ thể, đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện.

Thứ hai, cần có chương trình đào tạo phù hợp dành cho cán bộ y tế làm việc ở y tế cơ sở, đặc biệt cần đẩy mạnh đào tạo đội ngũ bác sĩ gia đình cho trạm y tế xã; đẩy mạnh công tác chăm sóc và quản lý sức khỏe tại nhà, tại cộng đồng. Tăng cường đào tạo cán bộ y tế là người địa phương, cán bộ y tế người dân tộc thiểu số; đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ hộ sinh và điều dưỡng; đào tạo nhân viên y tế thôn, bản, cô đỡ thôn, bản để đủ trình độ thực hiện các nhiệm vụ được giao; cần có chính sách ưu tiên, đãi ngộ đặc biệt trong thu hút, tuyển dụng để khuyến khích cán bộ y tế làm việc lâu dài ở y tế cơ sở.

Thứ ba, cần có đầu tư đột phá để nâng cấp cơ sở vật chất trạm y tế tuyến xã, trong đó có xây mới trạm y tế đối với các xã chưa có nhà trạm hoặc mới chỉ có nhà tạm và các trạm dột nát, xuống cấp, đồng thời sửa chữa nâng cấp các trạm y tế chưa đạt chuẩn của Bộ Y tế. Việc đầu tư cơ sở vật chất cần xem xét, lựa chọn kỹ, tránh đầu tư dàn trải, có lộ trình thực hiện, trước hết tập trung vào các xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, ở xa các bệnh viện. Gắn đầu tư xây dựng trạm y tế xã với kế hoạch triển khai xây dựng nông thôn mới của từng địa phương.

Thứ tư, cùng với việc củng cố cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế, cần đầu tư thỏa đáng để cung cấp các trang, thiết bị y tế thiết yếu cho y tế cơ sở để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đồng thời cải thiện điều kiện làm việc để thu hút và giữ chân cán bộ y tế yên tâm làm việc ở y tế cơ sở lâu dài.

Thứ năm, về tài chính và đầu tư, với quan điểm CSSK ban đầu là dịch vụ xã hội cơ bản mọi người dân đều có quyền được hưởng, Nhà nước cần chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm nguồn tài chính để đầu tư cho y tế cơ sở. Trong vòng từ năm đến mười năm tới, cần tập trung đầu tư mạnh, tạo bước bứt phá để củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, nhất là ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; phấn đấu đạt mười tiêu chí quốc gia về y tế xã do Bộ Y tế ban hành. Ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí cho hoạt động thường xuyên của y tế cơ sở. Bên cạnh nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước, cần nhanh chóng phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, mở rộng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ở tuyến xã, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho y tế cơ sở.

Thứ sáu, cần tăng cường và đổi mới nội dung, phương pháp truyền thông - giáo dục sức khỏe, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức của toàn bộ hệ thống chính trị đối với y tế cơ sở; nâng cao nhận thức về phòng bệnh, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của các tầng lớp nhân dân, của mỗi người, mỗi gia đình; xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại đối với sức khỏe, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng.

VỚI sự quan tâm chỉ đạo đặc biệt của các cấp ủy đảng, chính quyền và có đột phá về đầu tư để có mạng lưới y tế cơ sở khang trang, đầy đủ trang, thiết bị cần thiết, đủ cán bộ y tế có chất lượng, để trong vòng mười năm tới thay đổi hoàn toàn diện mạo và chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ sở, góp phần bảo đảm công bằng và hiệu quả trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

PGS, TS, TTND NGUYỄN THỊ KIM TIẾN Ủy viên T.Ư Ðảng,Bộ trưởng Y tế

Theo

Nguồn Nhân Dân: http://www.nhandan.org.vn/khoahoc/khoa-hoc/item/21461202-.html