Theo Forest Trends, các doanh nghiệp xuất khẩu viên nén Việt sẽ có nhiều cơ hội khi thị trường viên nén thế giới dự báo đạt 31 tỷ USD năm 2030, cầu thị trường truyền thống của Việt Nam là Nhật Bản cũng sẽ tăng gấp 3 lần hiện tại.
Cùng với dự báo sẽ có biến động lớn trong thị trường và giá cả, 'miếng bánh' viên gỗ nén đang dần gia tăng tính cạnh tranh ở cả trong nước và xuất khẩu.
Thế giới 'khát' viên nén gỗ, mặt hàng này sẽ có sự biến động lớn về thị trường, giá cả. Miếng bánh 31 tỷ USD của thị trường viên nén gỗ sẽ càng thêm cạnh tranh.
Không chỉ thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng ở Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan, ngành dăm gỗ được dự báo sẽ có cầu tiêu thụ ngày càng cao tại nội địa, do cơ chế chuyển dịch năng lượng của Chính phủ.
Việt Nam hiện đã trở thành quốc gia sản xuất viên nén gỗ lớn thứ hai trên thế giới, sau Mỹ. Phần lớn viên nén sản xuất tại Việt Nam được xuất khẩu sang hai thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản để làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất điện.
Triển vọng xuất khẩu viên nén gỗ của Việt Nam tại thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản đang ngày càng rộng mở khi sản phẩm này có lợi thế cạnh tranh và nhu cầu thị trường đang tăng cao.
Sau thời gian đứng ở mức cao trong năm 2022, 6 tháng đầu năm 2023, giá viên nén gỗ xuất khẩu giảm sâu, đặc biệt là tại thị trường Hàn Quốc.
Lượng viên nén từ Việt Nam xuất vào hai thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản chiếm trên 95% trong tổng lượng viên nén xuất khẩu.
Triển vọng xuất khẩu viên nén gỗ của Việt Nam tại thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản đang ngày càng rộng mở, khi sản phẩm này có lợi thế cạnh tranh và nhu cầu thị trường đang tăng cao.
Theo Tổng cục Hải quan, quý I/2023, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,88 tỷ USD, giảm 28,3% so với cùng kỳ năm 2022.
Sụt giảm đơn hàng xuất khẩu khiến cho nguồn cung gỗ nguyên liệu nhập khẩu suy giảm, đặc biệt là nguồn cung từ các quốc gia/vùng lãnh thổ tích cực, đe dọa chuỗi cung ứng bền vững của ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Năm 2022 có trên 900 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu gỗ từ thị trường tích cực và trên 600 doanh nghiệp nhập khẩu từ vùng rủi ro. Với số lượng doanh nghiệp tham gia đông đảo này, VIFOREST cho rằng đây là yếu tố khó kiểm soát đầu vào của gỗ nguyên liệu.
Lượng gỗ nhập khẩu từ các thị trường rủi ro chiếm 40% tổng cung gỗ nguyên liệu nhập khẩu vào Việt Nam. Các nguồn cung rủi ro chính chủ yếu từ các nước châu Phi, Lào và Papua New Guinea.
Năm 2022, Việt Nam đã nhập khẩu lượng gỗ tròn và gỗ xẻ tương đương 6,3 triệu m3 gỗ quy tròn với giá trị gần 2 tỷ USD.
Theo báo cáo của Nhóm nghiên cứu các hiệp hội gỗ và tổ chức Forest Trends, trong năm 2023, nhu cầu tiêu thụ dăm gỗ của 2 thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam là Hàn Quốc và Nhật Bản dự báo tiếp tục tăng.
Năm 2022, trị giá xuất khẩu các sản phẩm nội thất ngành gỗ vào những thị trường trọng điểm đã giảm. Thực tế, nhu cầu trong nước đang tăng song dường như các DN lại chưa chú trọng tới thị hiếu của khách hàng nội địa.
Trái ngược với sự ảm đạm về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ, xuất khẩu viên nén đang có tốc độ tăng trưởng mạnh, góp phần quan trọng vào những thiếu hụt trong tăng trưởng xuất khẩu lâm sản.
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ đi Mỹ, EU, Anh đang gặp khó khăn do người dân bản địa cắt giảm chi tiêu. Có doanh nghiệp gỗ đã mất hẳn doanh thu xuất khẩu.
Nhu cầu sử dụng viên nén trên thị trường thế giới đang tăng mạnh, do cuộc xung đột Nga – Ukraine làm giảm nguồn cung khí đốt từ Nga cho các quốc gia khu vực EU, nhiều người dân EU chuyển sang sử dụng viên nén đốt lò sửa trong mùa đông sắp tới. Việt Nam với vị thế là quốc gia xuất khẩu viên nén lớn thứ hai thế giới đang có lợi thế, khi giá xuất khẩu viên nén hiện tăng hơn 27% so với năm 2021…
Các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu, sử dụng nguyễn liệu gỗ rừng trồng đang gặp phải khó khăn trong việc hoàn thuế giá trị gia tăng. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là các ách tắc trong việc xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng và tính pháp lý trong các giao dịch ở các khâu trung gian trong chuỗi cung…
Các doanh nghiệp có các sản phẩm gỗ xuất khẩu có sử dụng gỗ rừng trồng đang gặp phải khó khăn trong việc được hoàn thuế giá trị gia tăng. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là các ách tắc trong việc xác định nguồn gốc gỗ rừng trồng và tính pháp lý trong các giao dịch ở các khâu trung gian trong chuỗi cung.