Việc Thông tư 50 chính thức duy trì LDR, nâng trần từ 85% lên 95% và áp dụng cách tính mới phản ánh toàn diện hơn cấu trúc nguồn vốn và tạo thêm dư địa so với quy định hiện hành.
Thông tư 50/2026/TT-NHNN bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV và điều chỉnh cách tính LDR, tạo lộ trình đưa chuẩn an toàn hoạt động của ngân hàng Việt Nam gần hơn với Basel III.
Các công ty chứng khoán cho rằng Thông tư 50 giúp giảm áp lực thanh khoản, mở thêm dư địa tín dụng, song mức hưởng lợi sẽ phân hóa theo cấu trúc vốn và khả năng đáp ứng Basel III.
Những điểm tựa từ tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ và cải cách thị trường đang tạo nền tảng tích cực cho triển vọng dài hạn. Tuy nhiên, thanh khoản xuống thấp, khối ngoại tiếp tục bán ròng, áp lực lạm phát cùng yếu tố mùa vụ đang khiến thị trường chứng khoán đối mặt với một tháng 10 nhiều thách thức. Trong bối cảnh VN-Index đã đánh mất các đường trung bình quan trọng, chiến lược được ưu tiên là quản trị rủi ro, hạn chế bắt đáy và chờ thị trường xác lập vùng cân bằng mới.
Ngân hàng có thể có thêm dư địa cho vay khi chuyển sang cơ chế quản lý thanh khoản mới. Nhưng con số 95% không phải tỷ lệ khách hàng được vay, cũng không đồng nghĩa mọi ngân hàng lập tức nới điều kiện hoặc giảm lãi suất.
VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Thông tư 50 bổ sung tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR), yêu cầu ngân hàng duy trì nguồn vốn ổn định tương ứng với đặc điểm và kỳ hạn của tài sản. Qua đó, thay đổi cách đánh giá về tiền gửi không kỳ hạn (CASA) của các ngân hàng theo cách đánh giá cũ.
Chứng khoán MBS nhận định nếu sớm áp dụng các tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và nguồn vốn ổn định ròng (NSFR ) vào quản lý thanh khoản, các ngân hàng có thể được nới trần tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) từ 85% lên 95%, qua đó giảm áp lực thanh khoản và tạo thêm dư địa cho hoạt động cho vay...
Thị trường ghi nhận tuần giảm điểm thứ hai liên tiếp bất chấp thông tin nâng hạng tích cực. Khối ngoại tiếp tục xả hàng mạnh trên HoSE, song một giao dịch đột biến tại UPCoM đã giúp hãm đà rút ròng của dòng vốn này.
Thông tư 50/2026/TT-NHNN được Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 30/9/2026 có nhiều điều chỉnh quan trọng về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, hướng tới tiệm cận chuẩn mực Basel và nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng. Trao đổi với phóng viên Thời báo Ngân hàng, PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Trưởng Bộ môn Kinh doanh ngân hàng, Học viện Ngân hàng đã phân tích một số đổi mới của Thông tư, đồng thời làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với ngân hàng trong quá trình triển khai quy định mới.
Quy định mới cho phép ngân hàng cho vay tối đa tới 95 đồng trên mỗi 100 đồng tiền gửi, mở ra dư địa tín dụng lớn. Tuy nhiên, không phải nhà băng nào cũng dễ dàng hưởng lợi khi có đơn vị đã chạm, thậm chí vượt ngưỡng an toàn.
Từ 1/12/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi (LDR) tối đa được điều chỉnh tăng từ mức 85% như quy định hiện hành (Thông tư 22/2019) lên mức 95%.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo quy định mới, ngân hàng đáp ứng ngưỡng tối thiểu 100% đối với cả LCR và NSFR sẽ không phải tuân thủ giới hạn LDR 95% nhưng vẫn phải tính toán và báo cáo chỉ tiêu này.
Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/12/2026, sẽ nâng giới hạn dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi lên 95% và quy định lộ trình áp dụng hai tỷ lệ thanh khoản theo Basel III.
NHNN đã nâng giới hạn tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi lên 95%, qua đó tạo thêm dư địa để các ngân hàng mở rộng tín dụng mà không phải chịu quá nhiều áp lực huy động vốn.
Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) tối đa 95%, đồng thời đưa ra lộ trình áp dụng các tiêu chuẩn thanh khoản mới đối với hệ thống ngân hàng.
Thông tư 50/2026/TT-NHNN đưa ra nhiều thay đổi quan trọng đối với các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, trong đó đáng chú ý là việc điều chỉnh LDR và đưa LCR, NSFR vào lộ trình áp dụng. Trao đổi với Thời báo Ngân hàng, TS. Châu Đình Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh cho rằng khuôn khổ mới sẽ tạo thêm dư địa cân đối nguồn vốn, đồng thời thúc đẩy các ngân hàng chuyển sang cấu trúc nguồn vốn ổn định, bền vững hơn.
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
Quy định mới này sẽ giúp giải tỏa bớt áp lực huy động vốn lên các ngân hàng, đồng thời tạo thêm dư địa để mở rộng tín dụng và bảo vệ biên lãi thuần (NIM).
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư 50 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đáng chú ý, Thông tư đưa vào lộ trình áp dụng các chỉ tiêu thanh khoản LCR, NSFR, đồng thời quy định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) tối đa 95%.
Ngân hàng Nhà nước vừa điều chỉnh tỷ lệ vay trên tiền gửi, áp dụng các tiêu chuẩn Basel III về thanh khoản và lộ trình mới cho ngành ngân hàng từ 2026.
Thông tư 50/2026 mở đường nâng trần LDR từ 85% lên 95%, trước khi dỡ bỏ giới hạn này với các ngân hàng đáp ứng đầy đủ chuẩn thanh khoản Basel III.
Với tỷ lệ thực hiện quyền là 9,5%, cổ đông của VIB được nhận thêm cổ phiếu mà không phải chi tiền. Tuy nhiên, đằng sau việc tăng vốn cổ phần thì bài toán đặt ra với VIB là khả năng chuyển hóa nguồn vốn thành tài sản sinh lời và mang lại lợi nhuận cho VIB.
Kết thúc nửa đầu năm 2026, Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (Mã: HDB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 13.202 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ. Đặc biệt, quy mô tổng tài sản của nhà băng này đã chính thức vượt mốc 1 triệu tỷ đồng, đi kèm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) dẫn đầu hệ thống với 25,4%.
HDBank vừa công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với ba dấu mốc nổi bật: gia nhập nhóm ngân hàng có tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế vượt 13.200 tỷ đồng và lần đầu được Fitch Ratings xếp hạng tín nhiệm BB-.
6 tháng đầu năm 2026, HDBank (HoSE: HDB) đạt tổng tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế hơn 13.200 tỷ đồng (ROE 25,4%). Ngân hàng tiếp tục khẳng định vị thế quốc tế khi huy động thành công 721 triệu USD vay hợp vốn và được Fitch Ratings xếp hạng BB-.
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) giảm xuống còn 2,10%, thấp hơn 6 điểm cơ bản so với đầu năm, cho thấy hiệu quả của công tác quản trị rủi ro, kiểm soát tín dụng và thu hồi nợ.
VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TPHCM (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.