Mặt bằng lãi suất huy động trong bảng khảo sát cho thấy nhóm kỳ hạn từ 6 tháng trở lên đang có mức niêm yết cao hơn đáng kể so với các kỳ hạn ngắn, với mức cao nhất đạt 7,50%.
Mặt bằng lãi suất tiền gửi đang có sự chênh lệch đáng kể giữa các ngân hàng, nhất là tại nhóm kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Một số ngân hàng áp dụng mức trên 7%/năm, trong khi nhóm ngân hàng thương mại lớn chủ yếu duy trì lãi suất dưới mức này.
Mặt bằng lãi suất tiếp tục có sự phân hóa theo từng kỳ hạn. Mức cao nhất ghi nhận 7,5%/năm ở kỳ hạn 12 tháng tại Shinhan Bank, trong khi kỳ hạn 24 tháng cao nhất đạt 7%/năm tại MB Bank.
Biểu lãi suất huy động của 29 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiền gửi tiếp tục có sự khác biệt đáng kể giữa các tổ chức tín dụng và từng kỳ hạn. Trong đó, mức cao nhất đạt 7,50%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, còn lãi suất không kỳ hạn phổ biến chỉ từ 0,05-0,50%/năm.
Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mức thấp ở các kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần áp dụng lãi suất từ trên 6% đến 7,50%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 đến 24 tháng.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy của 27 ngân hàng cho thấy, ở nhóm kỳ hạn từ 12-24 tháng, nhiều ngân hàng niêm yết lãi suất trên 6%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn phổ biến dao động từ khoảng 2,1-4,75%/năm.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy của các ngân hàng cho thấy mức lãi suất tiền gửi có sự khác biệt đáng kể giữa các tổ chức tín dụng và từng kỳ hạn, từ không kỳ hạn đến 24 tháng.
Lãi suất huy động tại 27 ngân hàng đang có sự phân hóa khá rõ giữa các kỳ hạn, với mức dao động từ 0,05%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn đến 7,5%/năm ở các kỳ hạn dài.
BYD Việt Nam BYD Việt Nam cùng Grab vừa chính thức khởi động chiến dịch quy mô lớn 'BYD Fest 102 - Mùa 2'.
Khảo sát biểu lãi suất huy động của 28 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn. Ở nhóm kỳ hạn từ 6-24 tháng, nhiều nhà băng niêm yết lãi suất từ 6%/năm trở lên, trong khi kỳ hạn ngắn dưới 3 tháng phổ biến dao động từ khoảng 2,1-4,75%/năm.
Sau khi Ngân hàng trung ương Hàn Quốc tăng lãi suất cơ bản, 5 ngân hàng thương mại lớn đồng loạt nâng lãi suất tiền gửi lên 3,2-3,25%/năm, mở ra làn sóng sản phẩm tiết kiệm lãi suất trên 3%.
Với kỳ hạn 12 tháng, Shinhan Bank dẫn đầu toàn thị trường ở mức 7,50%/năm, theo sau là Bac A Bank 7,10%, PGBank 6,70%, OCB 6,70%, BVBank 6,65%, MSB và VIB...
Khảo sát biểu lãi suất huy động của 28 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục có sự phân hóa rõ giữa các kỳ hạn. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức thấp ở các kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết lãi suất từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi từ 6 đến 24 tháng.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 28 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục có sự phân hóa theo từng kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng. Mức lãi suất cao nhất ghi nhận đạt 7,5%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, trong khi nhiều ngân hàng duy trì lãi suất từ 6-7%/năm đối với các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
Lãi suất huy động tại 28 ngân hàng tiếp tục phân hóa rõ rệt, với mức cao nhất vượt 7%/năm ở một số ngân hàng tư nhân, trong khi nhóm quốc doanh duy trì mặt bằng thấp hơn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 29 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn gửi. Trong khi nhiều nhà băng duy trì mức dưới 5%/năm ở kỳ hạn ngắn, không ít ngân hàng niêm yết lãi suất từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi từ 6 tháng trở lên.
Khảo sát biểu lãi suất huy động của các ngân hàng cho thấy, một số ngân hàng tiếp tục duy trì lãi suất từ 7%/năm trở lên ở các kỳ hạn dài, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn giữ mặt bằng thấp hơn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động của 21 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục có sự phân hóa theo từng kỳ hạn. Mức lãi suất cao nhất ghi nhận là 7,5%/năm tại kỳ hạn 12 tháng của Shinhan Bank, trong khi nhiều ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mức lãi suất thấp hơn so với nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.
Biểu lãi suất huy động của 27 ngân hàng cho thấy, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thấp ở các kỳ hạn ngắn, một số ngân hàng thương mại áp dụng mức từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi kỳ hạn từ 6 đến 24 tháng.
Biểu lãi suất huy động tại quầy niêm yết tại các ngân hàng cho thấy, mặt bằng lãi suất tiền gửi dao động khá rộng giữa các tổ chức tín dụng và các kỳ hạn. Trong đó, mức lãi suất cao nhất ghi nhận là 7,5%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, trong khi nhiều ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi không kỳ hạn ở mức từ 0-0,5%/năm.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy niêm yết tại các ngân hàng, ở các kỳ hạn từ 1-24 tháng, mức lãi suất dao động từ 2,1% đến 7,5%/năm, trong đó nhiều ngân hàng duy trì mức trên 6%/năm ở các kỳ hạn trung và dài hạn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy niêm yết tại các ngân hàng cho thấy, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức thấp ở kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần vẫn niêm yết lãi suất từ 6-7,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục có sự phân hóa giữa các ngân hàng và từng kỳ hạn tiền gửi. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mức lãi suất thấp ở các kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại áp dụng mức từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy niêm yết tại 27 ngân hàng cho thấy, mức lãi suất cao nhất ghi nhận đạt 7,5%/năm, trong khi nhiều ngân hàng vẫn duy trì lãi suất từ 6%/năm trở lên ở các kỳ hạn trung và dài hạn.
Cơ quan thanh tra xác định, Shinhan Bank Phú Mỹ chưa tuân thủ quy định về cho vay, quy trình cấp tín dụng, chưa thực hiện triệt để việc giảm lãi suất huy động theo chỉ đạo của Thống đốc NHNN.
Biểu lãi suất tiền gửi mới nhất ghi nhận mức cao nhất lên tới 7,5%/năm, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn khối ngân hàng thương mại cổ phần ở hầu hết các kỳ hạn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy của 27 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiết kiệm hiện dao động khá rộng giữa các tổ chức tín dụng.
Mặt bằng lãi suất huy động tại các ngân hàng hiện dao động từ 0,05-7%/năm tùy kỳ hạn; trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức lãi suất tương đối ổn định, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần tiếp tục áp dụng mức trên 6%/năm.
Mặt bằng lãi suất huy động tại quầy hiện nay cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa các ngân hàng, đặc biệt ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, tạo thêm lựa chọn cho người gửi tiền tùy theo nhu cầu về thời gian và mức sinh lời.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy tại 26 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa mạnh giữa các tổ chức tín dụng. Ở nhóm kỳ hạn dài từ 12-24 tháng, nhiều ngân hàng niêm yết mức từ 6%/năm trở lên, trong khi lãi suất không kỳ hạn phổ biến chỉ dao động từ 0,05-0,50%/năm.
Mặt bằng lãi suất tiết kiệm tiếp tục phân hóa rõ nét giữa các nhóm ngân hàng. Bên cạnh những nhà băng chỉ áp dụng mức 2-4%/năm ở kỳ hạn ngắn, nhiều đơn vị đang đẩy lãi suất kỳ hạn dài lên sát hoặc vượt ngưỡng 7%/năm.
Theo biểu lãi suất huy động tại quầy được cập nhật từ 28 ngân hàng, mức lãi suất tiền gửi đang dao động khá rộng giữa các kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng.
Lãi suất huy động hiện có xu hướng tăng dần theo kỳ hạn gửi, với mức chênh lệch khá lớn giữa các ngân hàng. Điều này tạo thêm lựa chọn cho người gửi tiền khi cân nhắc giữa yếu tố thanh khoản và mức sinh lời của khoản tiền gửi.
Khảo sát biểu lãi suất huy động của 29 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiền gửi hiện dao động từ 0,05% đến 7,5%/năm tùy kỳ hạn và sản phẩm. Nhóm kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng tiếp tục ghi nhận mức lãi suất cao nhất trên thị trường.
Áp lực từ lãi suất vay mua nhà đang trở thành gánh nặng rõ rệt đối với nhiều nhà đầu tư bất động sản, đặc biệt là những người sử dụng đòn bẩy tài chính cao.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 27 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn. Nhóm kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng ghi nhận nhiều mức lãi suất từ 6%/năm trở lên, trong khi kỳ hạn ngắn dưới 3 tháng phổ biến dao động từ khoảng 2% đến dưới 5%/năm.
Theo bảng lãi suất, phần lớn các ngân hàng hiện tập trung nâng lãi suất ở nhóm kỳ hạn từ 12 tháng trở lên nhằm thu hút nguồn vốn dài hạn; trong khi đó, lãi suất không kỳ hạn vẫn ở mức rất thấp, phổ biến từ 0,05% đến 0,5%/năm.
Trong khảo sát, trong khi nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giữ mức lãi tương đối ổn định, nhiều ngân hàng cổ phần đang áp dụng mức lãi từ 6% - 7,5%/năm ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.
Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục ghi nhận sự chênh lệch đáng kể giữa các ngân hàng. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức lãi dưới 6%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đang niêm yết lãi suất từ 6,5-7,5%/năm cho các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức lãi tương đối thấp ở kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần vẫn áp dụng mức từ 6-7,5%/năm cho các khoản tiền gửi trung và dài hạn nhằm tăng sức cạnh tranh huy động vốn.
Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm tại nhiều ngân hàng cho thấy mức niêm yết lãi suất huy động dao động mạnh theo từng kỳ hạn, từ 0,05%/năm với tiền gửi không kỳ hạn đến trên 7%/năm ở một số kỳ hạn trung và dài hạn.
Won là đơn vị tiền tệ của Hàn Quốc, quen thuộc với nhiều người Việt Nam đang du học, lao động hoặc định cư tại đây, vậy 1 Won bằng bao nhiêu tiền Việt Nam?
Khảo sát biểu lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng cho thấy kỳ hạn từ 12 tháng trở lên tiếp tục là nhóm có mức sinh lời cao nhất. Và trong khi khối ngân hàng quốc doanh giữ mức thấp ở kỳ hạn ngắn, một số ngân hàng tư nhân vẫn niêm yết lãi suất trên 6%/năm cho các khoản tiền gửi dài hạn.
Dữ liệu lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại gần 30 ngân hàng cho thấy, nhiều ngân hàng thương mại đang áp dụng mức lãi suất trên 6%/năm cho các khoản tiền gửi kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong bối cảnh nhu cầu huy động vốn trung và dài hạn gia tăng.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại các ngân hàng cho thấy xu hướng ưu tiên lãi suất cao cho các khoản tiền gửi trung và dài hạn, trong khi kỳ hạn ngắn vẫn phổ biến quanh mức 2-5%/năm.
Theo số liệu từ Korea Exchange (KRX), khối lượng giao dịch vàng trên thị trường vàng Hàn Quốc trong quý I/2026 tăng vọt so với cùng kỳ năm 2025.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiết kiệm tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn và từng nhóm nhà băng; trong đó, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đang duy trì mức lãi suất cạnh tranh hơn đáng kể so với nhóm ngân hàng quốc doanh, đặc biệt ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Lãi suất huy động tại quầy được niêm yết tại các ngân hàng hiện dao động phổ biến từ 3 - 5%/năm đối với các kỳ hạn ngắn và trên 6%/năm ở nhóm kỳ hạn dài. Đáng chú ý, mức lãi suất giữa các ngân hàng tiếp tục có sự phân hóa rõ nét, đặc biệt tại các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.