Đọc Bát-nhã Tâm kinh, chắc ai cũng nhớ đến câu mở đầu: 'Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa'. Trong đó chữ 'thâm' được mọi người hiểu khác nhau. Vậy hiểu như thế nào mới đúng là điều mà chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong bài viết này.
Bồ-tát Quán Thế Âm là một vị Bồ-tát có ảnh hưởng rất sâu đậm trong văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Ai cũng quý thân tâm này, nó là tôi và của tôi, cũng từ đây mọi chấp thủ hình thành rồi sinh ra hết thảy phiền não khổ đau.
Khi chúng ta hoảng loạn, lo âu, sợ hãi đủ thứ chuyện trên đời và phóng tâm theo tưởng uẩn thì có triệu triệu con virus được dịp lưu trú, sinh sôi nảy nở bủa vây khắp thân tâm, chúng bào mòn, rúc rỉa cho nỗi sợ hãi, phiền não này càng lúc càng tăng nhiệt não sầu ưu bi khổ. Sáu căn mở toang, phóng thích cho tham, sân, si thì gặp sáu trần làm bệ phóng ươm thêm nỗi đau lửa khổ, là do mình, do chính mình vậy. Nhân tai hay thiên tai cũng phát xuất từ tứ đại này mà ra.
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là 'duy trì, nắm giữ'; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và sự giải thích khác nhau trong quá trình phát triển tư tưởng ở Ấn Độ. Phật giáo chia sẻ thuật ngữ này và một số ý nghĩa của nó với những tôn giáo Ấn Độ khác, nhưng đồng thời nó cũng đưa ra một số giải thích riêng. Pháp có thể bao hàm nhiều nghĩa khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau và liên quan đến những vấn đề khác nhau. Ở đây chúng ta sẽ xem xét khái niệm này dưới hai đề mục: trước hết là pháp ở nơi nghĩa chung, bao gồm nhiều nghĩa khác nhau; và thứ hai là pháp mang tính thuật ngữ riêng, chỉ cho những thành phần hay yếu tố cuối cùng của toàn bộ thực tại hiện hữu.