Thách thức về già hóa dân số: Vì sao người trẻ ngày càng ngại sinh con?
Xu hướng giảm sinh diễn ra trên diện rộng, kể cả tại các địa phương trước đây có mức sinh cao, trong khi nhiều đô thị lớn rơi vào tình trạng mức sinh rất thấp, khó có khả năng phục hồi.

Nhân viên y tế chăm sóc cho trẻ sơ sinh. (Ảnh: TTXVN)
Những năm gần đây, mức sinh của Việt Nam có xu hướng giảm nhanh và đã xuống dưới mức sinh thay thế. Tổng tỷ suất sinh (TFR) của Việt Nam giảm từ 2,11 con/phụ nữ năm 2021 xuống 2,01 (năm 2022); 1,96 (năm 2023); 1,91 (năm 2024) và 1,93 con/phụ nữ vào năm 2025. Điều này đang đặt ra nhiều thách thức về suy giảm lực lượng lao động cũng như năng lực cạnh tranh quốc gia trong tương lai.
Xu hướng giảm sinh diễn ra trên diện rộng
Đánh giá về vấn đề này, ông Lê Thanh Dũng - Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) cho hay hiện nay xu hướng giảm sinh diễn ra trên diện rộng, kể cả tại các địa phương trước đây có mức sinh cao, trong khi nhiều đô thị lớn rơi vào tình trạng mức sinh rất thấp, khó có khả năng phục hồi, đặc biệt tại các đô thị lớn và khu vực phát triển kinh tế.
Trong 34 tỉnh, thành phố, có 11 tỉnh có mức sinh dưới 2,0 con/phụ nữ; 19 tỉnh có mức sinh từ 2,2 con/phụ nữ trở lên và 4 tỉnh có mức sinh xung quanh mức sinh thay thế từ 2,0-2,2 con/phụ nữ. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có mức sinh thấp nhất, chỉ 1,51 con/phụ nữ, còn Điện Biên cao nhất với 2,91 con/phụ nữ.
Ngay trong kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, sự khác biệt này đã thể hiện rõ. Tổng tỷ suất sinh khu vực thành thị chỉ 1,67 con/phụ nữ, thấp hơn đáng kể so với 2,08 con/phụ nữ ở nông thôn. Đông Nam Bộ có mức sinh 1,48 con/phụ nữ và Đồng bằng sông Cửu Long 1,62 con/phụ nữ, trong khi Trung du và miền núi phía Bắc đạt 2,34 và Đồng bằng sông Hồng 2,24 con/phụ nữ.
Mức sinh thấp vì vậy đang trở thành vấn đề đặc biệt đáng quan tâm ở các đô thị và khu vực phát triển kinh tế, nơi người trẻ phải đối mặt với chi phí nhà ở, nuôi dạy con, áp lực việc làm và yêu cầu cân bằng giữa công việc với gia đình.
Mức sinh 1,93 con/phụ nữ trong năm 2025 có thể được xem là tín hiệu tích cực khi đã nhích lên so với mức thấp kỷ lục 1,91 của năm 2024. Nhưng nếu đặt con số này trong cả quá trình từ năm 2021 đến nay, Việt Nam vẫn đang ở dưới mức sinh thay thế.
Đáng chú ý hơn, sự giảm sinh đang diễn ra trong bối cảnh dân số bước vào giai đoạn già hóa nhanh. Năm 2025, nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên chiếm khoảng 14,5%, tăng so với 14% năm 2024, trong khi nhóm trẻ em 0-14 tuổi giảm từ 23,5% xuống 22,8%. Điều này đặt ra một yêu cầu kép: Việt Nam vừa phải khuyến khích sinh đủ hai con, vừa phải chuẩn bị tốt cho một xã hội ngày càng nhiều người cao tuổi.
Người trẻ ngày càng ngại sinh con vì những áp lực cuộc sống
Theo các chuyên gia, đằng sau mức sinh thấp là hàng loạt thay đổi trong đời sống xã hội. Xu hướng kết hôn muộn, sinh con muộn và lựa chọn sinh ít con đang diễn ra ngày càng rõ. Khi thời điểm kết hôn và sinh con bị đẩy lùi, khoảng thời gian thuận lợi để sinh con cũng bị thu hẹp.
Bên cạnh đó, chi phí nuôi dạy trẻ ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng trong quyết định sinh con của các cặp vợ chồng. Tại các thành phố lớn, khoản chi cho nhà ở, giáo dục, chăm sóc trẻ, y tế và dịch vụ hỗ trợ gia đình có thể tạo áp lực lớn lên những gia đình trẻ.

Việt Nam cần có chính sách kinh tế phù hợp, đặc biệt là bảo đảm thu nhập để người lao động có điều kiện nuôi dạy con. (Ảnh: TTXVN)
Trao đổi tại các diễn đàn về chính sách dân số, Giáo sư Nguyễn Thiện Nhân - Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, cho rằng mức sinh thấp kéo dài sẽ làm suy giảm lực lượng lao động và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh quốc gia.
Vì vậy, Việt Nam cần có chính sách kinh tế phù hợp, đặc biệt là bảo đảm thu nhập để người lao động có điều kiện nuôi dạy con, đồng thời tăng cường truyền thông về giá trị gia đình và trách nhiệm sinh con đối với xã hội.
Những phân tích này cho thấy, muốn người trẻ sinh đủ hai con, chỉ vận động bằng thông điệp truyền thông là chưa đủ. Chính sách phải tác động vào những nguyên nhân thực tế khiến các cặp vợ chồng trì hoãn hoặc giảm số con.
Theo Bộ Y tế, trong câu chuyện mức sinh, mục tiêu cuối cùng không phải là buộc người dân phải sinh con, mà là tạo điều kiện để những người muốn có hai con có thể thực hiện mong muốn đó. Một xã hội mà phụ nữ không phải lựa chọn giữa sự nghiệp và việc sinh con; người cha có thể tham gia chăm sóc con; trẻ em được tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế chất lượng; gia đình trẻ có điều kiện tiếp cận nhà ở và dịch vụ chăm sóc trẻ - đó mới là nền tảng bền vững để mức sinh phục hồi.
Trước diễn biến mức sinh giảm, năm 2026 Việt Nam đã có bước chuyển quan trọng về chính sách.
Luật Dân số và các văn bản hướng dẫn đã đưa ra nhiều chính sách nhằm khuyến khích sinh đủ hai con. Trong đó có quy định lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng, lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con thứ hai; Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ suất sinh thô tăng thêm 0,5‰ so với năm 2025.
Điểm đáng chú ý là chính sách dân số hiện nay không còn đặt trọng tâm vào việc "điều chỉnh mức sinh" theo từng vùng như trước, mà chuyển sang mục tiêu đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc, đồng thời chú trọng hỗ trợ những địa phương đang có mức sinh thấp.
Bởi khi mức sinh đã xuống thấp trong nhiều năm, việc chỉ khuyến cáo người dân sinh con không thể tạo ra thay đổi bền vững. Điều cần thiết là tạo ra môi trường để người dân có thể thực hiện mong muốn sinh con mà không phải đánh đổi quá lớn về kinh tế, nghề nghiệp và chất lượng cuộc sống./.
