Vun đắp 'thế trận lòng dân' vững chắc nơi biên cương
Qua 10 năm (2015-2025) triển khai, nhiều mô hình, chương trình, phong trào của Bộ đội Biên phòng đã phát huy hiệu quả, huy động sự tham gia của cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, doanh nghiệp và nhân dân, tạo thêm nguồn lực xây dựng khu vực biên giới vững mạnh. Trên cơ sở những kết quả đạt được, các mô hình, chương trình, phong trào tiếp tục được nghiên cứu, nâng cao chất lượng, đổi mới cách tổ chức, huy động nguồn lực phù hợp và nhân rộng theo đặc điểm từng tuyến, từng địa bàn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ xây dựng khu vực biên giới vững mạnh.

Lãnh đạo Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng và Tỉnh đoàn Cao Bằng phối hợp tổ chức khánh thành công trình "Thắp sáng đường biên-Đường cờ Tổ quốc" tại xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Ảnh: Ngọc Lâm
Nhìn lại chặng đường 10 năm, các mô hình, chương trình, phong trào mà Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng khu vực biên giới vững mạnh đã có những bước phát triển rõ nét, thu hút sự tham gia ngày càng sâu rộng của cả hệ thống chính trị và nhân dân. Kết quả đó bắt nguồn từ những chủ trương sát thực tiễn, cách làm chủ động, sáng tạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng cùng sự thống nhất, đoàn kết, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng.
Trong quá trình triển khai, Bộ đội Biên phòng phát huy vai trò nòng cốt trong tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương lựa chọn nội dung, cách làm phù hợp với đặc điểm từng tuyến, từng địa bàn; chủ động phối hợp với các lực lượng để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Nhờ sự kết nối của Bộ đội Biên phòng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các ban, ngành, đoàn thể, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, nhà hảo tâm và nhân dân cùng tham gia, giúp các mô hình vừa giải quyết những nhu cầu thiết thực ở cơ sở, vừa gắn đời sống, lợi ích của nhân dân với trách nhiệm tham gia quản lý, bảo vệ biên giới.
Sau 10 năm triển khai, thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục rà soát, nâng cao chất lượng các mô hình, chương trình, phong trào theo hướng sát nhu cầu của từng địa bàn, xác định rõ mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, nguồn lực, phương thức thực hiện và khả năng duy trì, nhân rộng. Việc đánh giá hiệu quả cần được tiến hành thường xuyên, lựa chọn những cách làm phù hợp, có tác động thực chất để tập trung nguồn lực, tránh dàn trải, hình thức.
Từ Lạng Sơn, câu chuyện “Lũy tre biên giới Việt” cho thấy một mô hình có thể phát huy hiệu quả lâu dài khi lợi ích của người dân gắn trực tiếp với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới. Xuất phát từ nhu cầu giúp các hộ có đất sản xuất sát biên giới ổn định cuộc sống, các đồn Biên phòng phối hợp với cấp ủy, chính quyền khảo sát, lựa chọn hộ tham gia tự quản đường biên giới, cột mốc quốc giới có nhu cầu trồng tre Bát độ. Nguồn lực được huy động từ địa phương, quỹ vốn tăng gia của đồn Biên phòng và sự hỗ trợ của các tổ chức, doanh nghiệp. Đến nay, 23.748 gốc tre đã được trồng cho 55 hộ gia đình trên chiều dài 22,388km, với kinh phí gần 600 triệu đồng. Một cách làm khác ở Lạng Sơn bắt nguồn trực tiếp từ yêu cầu quản lý, bảo vệ biên giới. Trên nhiều đoạn biên giới, việc đi lại phục vụ tuần tra, kiểm tra mốc quốc giới còn khó khăn, trong khi nguồn kinh phí xây dựng đường còn hạn chế. Từ thực tế đó, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lạng Sơn tham mưu huy động các tổ chức, cá nhân và nhân dân cùng chung sức mở đường lên cột mốc. Đến nay, đã có hơn 300 tổ chức, cá nhân cùng nhân dân tham gia hỗ trợ; 178 hộ hiến hơn 10.000m² đất; cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đóng góp 41.716 ngày công, xây dựng 355 tuyến đường kiểm tra cột mốc với tổng chiều dài trên 91km, tổng kinh phí hơn 54,5 tỷ đồng.
Đại tá Nguyễn Xuân Thanh, Chính ủy Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn cho rằng, kết quả đó cho thấy muốn huy động được nguồn lực lớn phải phát huy đúng vai trò của từng lực lượng, từ cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các ngành đến nhân dân. Khi người dân nhận thấy công trình vừa phục vụ quản lý, bảo vệ biên giới, vừa tạo thuận lợi cho việc đi lại, canh tác và sản xuất thì sự tham gia dần trở thành nhu cầu, trách nhiệm chung.

Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” giúp chăm lo đời sống nhân dân, tăng cường tình đoàn kết quân dân, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc nơi biên giới. Ảnh: Ngọc Lâm
Từ thực tiễn ở thành phố Đồng Nai có thể thấy hiệu quả của các mô hình được tạo nên khi người dân trực tiếp tham gia cùng Bộ đội Biên phòng giữ gìn an ninh, trật tự, quản lý, bảo vệ biên giới. Đến nay, Bộ đội Biên phòng thành phố Đồng Nai đã vận động hơn 30 tập thể, 150 hộ gia đình tham gia bảo vệ đường biên giới, mốc quốc giới, đấu tranh phòng, chống tội phạm; thành lập hơn 100 tổ tự quản về an ninh, trật tự. Đơn vị cũng tham mưu tổ chức kết nghĩa 6 cụm dân cư hai bên biên giới Việt Nam-Campuchia, huy động hơn 100 cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài địa phương hỗ trợ quân dân biên giới.
Từ những kết quả này, Đại tá Phạm Văn Đảng, Chính ủy Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đồng Nai cho rằng, trong giai đoạn tiếp theo cần phát huy hiệu quả đội ngũ cán bộ Biên phòng tham gia cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp; đội ngũ đảng viên phụ trách hộ gia đình, tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn, ấp. Đây chính là lực lượng trực tiếp nắm địa bàn, hiểu nhu cầu của người dân để tham mưu gắn các chương trình, mô hình chặt chẽ hơn với xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Tại Cà Mau, các mô hình của Bộ đội Biên phòng được triển khai sát với đời sống của người dân khu vực biên giới biển. Các mô hình “Tổ tàu thuyền an toàn”, “Tổ tự quản an ninh trật tự”, “Tiếng loa Biên phòng”, “Đội tuyên truyền pháp luật học đường” hướng đến vận động người dân chấp hành pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, cùng Bộ đội Biên phòng bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới biển. Còn Chương trình “Nâng bước em tới trường-Con nuôi đồn Biên phòng”, mô hình “Lớp học tình thương trên đảo Hòn Chuối” lại hướng đến việc chăm lo việc học tập của trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, trong 10 năm, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phối hợp huy động các nguồn lực hỗ trợ 16.000 lượt người, tạo sinh kế cho 3.500 hộ, với tổng số tiền trên 38,95 tỷ đồng.
Từ thực tiễn địa phương, đồng chí Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau khẳng định, điều đáng quý sau 10 năm không nằm ở số lượng mô hình, chương trình hay phần quà, công trình, mà ở chỗ những việc làm cụ thể đã tạo dựng niềm tin; từ niềm tin hình thành đồng thuận và từ đồng thuận phát huy sức mạnh của nhân dân trong xây dựng thế trận biên phòng toàn dân. Bước vào giai đoạn phát triển mới, Cà Mau xác định tiếp tục tăng cường sự phối hợp giữa địa phương với Bộ đội Biên phòng, phát huy trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các lực lượng và nhân dân để nâng tầm những mô hình hiệu quả và nghiên cứu những cách làm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế biển.
Sau 10 năm triển khai, thực tiễn đã khẳng định vai trò nòng cốt của Bộ đội Biên phòng trong tham mưu, tổ chức thực hiện và kết nối các nguồn lực xây dựng khu vực biên giới vững mạnh. Những mô hình, chương trình, phong trào phù hợp với thực tiễn, hướng về cơ sở, gắn với đời sống và lợi ích của nhân dân tiếp tục tạo nền tảng để cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng gần dân, hiểu dân, cùng cấp ủy, chính quyền địa phương chăm lo đời sống nhân dân, củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Sự đồng thuận, chung sức của nhân dân tạo thêm sức mạnh để Bộ đội Biên phòng thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh.
