Dinh dưỡng học đường: Khoảng trống từ những hàng quán quanh trường

Bữa ăn bán trú có thể được tính toán kỹ lưỡng, thực đơn được xây dựng theo khuyến nghị dinh dưỡng. Tuy nhiên, những nỗ lực ấy khó phát huy trọn vẹn nếu quanh trường học, học sinh vẫn dễ dàng tiếp cận các loại đồ ăn, thức uống nhiều đường, muối hoặc chất béo nhưng ít giá trị dinh dưỡng.

Lựa chọn của trẻ bị bao quanh bởi thực phẩm không lành mạnh

Những hàng ăn vặt gần nơi học luôn thu hút học sinh. Ảnh minh họa

Những hàng ăn vặt gần nơi học luôn thu hút học sinh. Ảnh minh họa

Bên cạnh bữa ăn bán trú, thực phẩm và đồ uống được bán trong và quanh trường học cũng là một phần của môi trường dinh dưỡng mà trẻ tiếp xúc hằng ngày.

Tại tọa đàm “Dinh dưỡng học đường và giải pháp chuẩn hóa bữa ăn học đường” được tổ chức ngày 10/10 tại Nghệ An, tiến sĩ, bác sĩ (TS.BS) Bùi Thị Mai Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Khoa học kỹ thuật dinh dưỡng - Thực phẩm, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, đề cập đến kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng môi trường thực phẩm lành mạnh quanh trường học.

Theo bà, một số khuyến nghị quốc tế hướng tới kiểm soát hoạt động kinh doanh thực phẩm trong phạm vi khoảng 100m quanh trường, nhằm hạn chế khả năng trẻ tiếp cận thực phẩm không lành mạnh. Tuy nhiên, việc áp dụng còn tùy thuộc vào bối cảnh và ưu tiên của từng quốc gia.

Đánh giá thực tế tại nước ta, TS.BS Mai Hương cho rằng quy định đối với thực phẩm bán trong căng-tin trường học vẫn chưa rõ ràng. Bà ghi nhận một số trường đã chủ động hạn chế nước ngọt có ga, các loại xiên que chế biến sẵn và que cay. Theo chuyên gia, việc nhận diện rõ những sản phẩm không lành mạnh là bước cần thiết để nhà trường có căn cứ xem xét loại bỏ hoặc hạn chế bán.

Ở đây cần phân biệt yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm với yêu cầu về chất lượng dinh dưỡng. Một sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản và chế biến đúng điều kiện chưa đồng nghĩa với việc thành phần dinh dưỡng của sản phẩm đó phù hợp với trẻ.

Không thể chỉ trông chờ vào ý thức của trẻ

Hạn chế thực phẩm không lành mạnh trong trường học không thể chỉ dừng ở việc khuyến cáo học sinh lựa chọn thực phẩm tốt cho sức khỏe. Nếu môi trường xung quanh vẫn tạo điều kiện để trẻ dễ dàng mua những sản phẩm không phù hợp, việc yêu cầu các em tự đưa ra lựa chọn đúng sẽ khó đạt hiệu quả như mong muốn.

Theo TS.BS Mai Hương, phụ huynh có thể góp tiếng nói trong việc khuyến nghị căng-tin nhà trường không bán một số loại thực phẩm, qua đó hạn chế khả năng học sinh tiếp cận những sản phẩm này.

Tuy nhiên, để việc hạn chế thực phẩm không lành mạnh không phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự giác của từng trường, cần có tiêu chí rõ ràng về thực phẩm được bán, cơ chế giám sát và sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình cùng cơ quan quản lý.

TS.BS Bùi Thị Mai Hương chia sẻ tại tọa đàm. Ảnh: Uông Ngọc

TS.BS Bùi Thị Mai Hương chia sẻ tại tọa đàm. Ảnh: Uông Ngọc

Trong phạm vi trường học, nhà trường có thể rà soát danh mục thực phẩm, đồ uống tại căng-tin và phối hợp với phụ huynh trong việc định hướng lựa chọn của học sinh. Với hàng quán bên ngoài cổng trường, việc quản lý cần có sự tham gia của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng. Những biện pháp hạn chế cũng cần đi cùng khả năng tiếp cận các lựa chọn thay thế lành mạnh, phù hợp với điều kiện kinh tế của học sinh.

Hiệu quả của các biện pháp không nên chỉ được đánh giá qua số lượng sản phẩm bị hạn chế. Cần xem xét những thực phẩm nào vẫn hiện diện, mức độ sẵn có và giá bán của các lựa chọn thay thế, cũng như sự thay đổi trong hành vi mua thực phẩm của học sinh.

TS.BS Mai Hương cho rằng, tiếng nói của phụ huynh có thể góp phần thúc đẩy việc hạn chế những thực phẩm không phù hợp được bán trong trường học. Từ đó, vấn đề đặt ra không chỉ là giáo dục học sinh lựa chọn thực phẩm, mà còn là trách nhiệm của nhà trường, gia đình, cơ quan quản lý và các đơn vị kinh doanh trong việc cải thiện môi trường thực phẩm quanh các em.

Chính sách dinh dưỡng cần được cụ thể hóa

Câu chuyện về môi trường thực phẩm quanh trường học cũng gợi lại vấn đề rộng hơn - được TS.BS Mai Hương đề cập tại tọa đàm: vị trí của dinh dưỡng trong khuôn khổ pháp luật. Theo bà, khi bắt đầu xây dựng luật về phòng bệnh, đã có ý tưởng phân định thành Luật Phòng bệnh và Luật Dinh dưỡng. Cán bộ Viện Dinh dưỡng Quốc gia được chia thành nhiều tổ, nhóm để xây dựng dự thảo luật riêng về dinh dưỡng. Tuy nhiên, sau quá trình cân đối, cân nhắc, nội dung dinh dưỡng được đưa vào Chương 4 của Luật Phòng bệnh, với tên gọi “Dinh dưỡng trong phòng bệnh”.

Theo TS.BS Mai Hương tên gọi “Dinh dưỡng trong phòng bệnh” cho thấy phạm vi điều chỉnh hẹp hơn so với kỳ vọng về một cách tiếp cận dinh dưỡng toàn diện. Dù vậy, theo bà, việc dinh dưỡng được đưa thành một chương riêng cũng là bước đáng ghi nhận so với trước đây, khi nội dung này mới xuất hiện rải rác trong một số quy định.

Theo trình bày của bà tại tọa đàm, chương này đề cập đến dinh dưỡng trong phòng bệnh và dinh dưỡng đối với một số nhóm đối tượng, gồm phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú, trẻ em, người trong độ tuổi lao động và người cao tuổi. Với dinh dưỡng học đường, nội dung được đề cập ở mức khái quát thông qua yêu cầu can thiệp dinh dưỡng phù hợp với lứa tuổi, đối tượng và tình trạng dinh dưỡng.

TS.BS Mai Hương cho biết Viện Dinh dưỡng Quốc gia đang tư vấn kỹ thuật cho Cục Phòng bệnh nhằm cụ thể hóa nội dung dinh dưỡng theo từng nhóm tuổi, đối tượng, đồng thời xây dựng các chỉ tiêu và khung đánh giá. Tại thời điểm tọa đàm, công việc này vẫn đang trong quá trình xây dựng, chưa hoàn thiện thành bản cuối cùng; các nội dung cụ thể dự kiến tiếp tục được thể hiện trong văn bản hướng dẫn thực hiện./.

Uông Ngọc - Kim Linh

Nguồn Trẻ em Việt Nam: https://treemvietnam.net.vn/dinh-duong-hoc-duong-khoang-trong-tu-nhung-hang-quan-quanh-truong-d10338.html