Phong trào văn nghệ cũng được phát triển sôi nổi. Một số xã thành lập được Đội văn nghệ. Một số đoàn văn công của Khu, tỉnh cũng được thành lập như: đoàn Chim Việt, Mạ Xanh, Lúa Vàng, Măng Tre... để đi biểu diễn lưu động. Chương trình biểu diễn thường gồm nhiều tiết mục, ca kịch, múa hát, tấu, ngâm thơ, còn có những ca khúc Cách mạng: Tiểu đoàn 307, Lên đàng, Chiến sĩ Việt Nam, Lá đỏ. Về múa, có những điệu múa: Sản xuất tự túc, Nam Bộ kháng chiến, Mùa đông binh sĩ... Về kịch, có những vở: Lòng dân, Cá về đâu (của Nguyễn Văn Xe); Nam Kỳ khởi nghĩa (của Hoàng Xuân Nhị), Người mặt cháy (của Khương Mễ), Đồng xanh máu đỏ (của Bảo Định Giang), Chiếc áo đêm trăng (kịch thơ của Nguyễn Bính)...
Trong ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945, dù ở nơi bưng biền xa xôi cách trở, Nhân dân Đồng Tháp Mười đã phối hợp nhịp nhàng với đồng bào Nam Bộ đứng lên đập tan bộ máy chính quyền của bọn thực dân. Với tầm vông vạt nhọn, giáo mác, cuốc xẻng, Nhân dân đã tràn vào các thị trấn cùng với lực lượng Thanh niên tiền phong tiến hành chiếm các dinh quận, biểu dương khí thế cách mạng và chào mừng các Ủy ban Nhân dân lâm thời làm lễ ra mắt đồng bào. Những trung đội Cộng hòa vệ binh và Quốc gia tự vệ cuộc trẻ, tuy chỉ được trang bị bằng vũ khí thô sơ, nhưng sĩ khí chiến đấu rất cao.
Ngay trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, tên tướng Leclerc đã từng huênh hoang tuyên bố: 'Sẽ bình định Nam Bộ trong vòng 3 tháng'. Trong kế hoạch 'đánh nhanh, thắng nhanh' của hắn, việc triệt tiêu căn cứ Đồng Tháp Mười đã được đặt lên hàng đầu. Lần đầu tiên, thuật ngữ 'chiến tranh tổng lực' (guerre totale) đã được Bộ tham mưu quân đội viễn chinh Pháp sử dụng trong những trận càn quét vào Đồng Tháp Mười.