Giảm chi phí xuất khẩu lao động: Góc nhìn từ kiểm toán và con số thống kê

Những phát hiện của Kiểm toán nhà nước (KTNN) và dữ liệu thống kê cho thấy chi phí vẫn là gánh nặng đáng kể đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Minh bạch các khoản thu, kiểm soát chi phí và giảm áp lực tài chính là những vấn đề cần được quan tâm nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Quang cảnh Hội thảo công bố báo cáo của Cục Thống kê và Tổ chức Di cư quốc tế. Ảnh: MINH ANH

Quang cảnh Hội thảo công bố báo cáo của Cục Thống kê và Tổ chức Di cư quốc tế. Ảnh: MINH ANH

Cục Thống kê (Bộ Tài chính) vừa phối hợp với Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) tại Việt Nam công bố kết quả Báo cáo phân tích chuyên sâu về chi phí do người lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài - Chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững SDG 10.7.1 (Báo cáo).

Báo cáo được xây dựng dựa trên số liệu từ Điều tra lao động việc làm năm 2025 và Khảo sát chuyên sâu về người lao động di cư năm 2025. Những kết quả được công bố cung cấp thêm cơ sở thực tiễn phục vụ cho việc hoạch định và hoàn thiện chính sách về di cư lao động quốc tế.

Cơ hội song hành cùng thách thức

Theo Báo cáo, di cư lao động quốc tế ngày càng trở thành một xu thế quan trọng trong quá trình phát triển và hội nhập của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không chỉ góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân mà còn tạo điều kiện để người lao động tiếp cận kỹ năng nghề nghiệp, tác phong lao động hiện đại và kinh nghiệm quốc tế, qua đó đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Những năm gần đây, số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tiếp tục tăng, thị trường tiếp nhận lao động ngày càng đa dạng và chất lượng nguồn lao động từng bước được nâng cao.

Tuy nhiên, lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Theo kết quả khảo sát, 18,5% người lao động cho biết đã gặp ít nhất một khó khăn trong thời gian làm việc tại nước tiếp nhận. Các khó khăn liên quan đến công việc có xu hướng phổ biến hơn tại Hàn Quốc, đặc biệt là áp lực công việc chiếm 17,6% và môi trường làm việc độc hại 9,7%.

Ở giai đoạn hồi hương, đối với người lao động đã trở về, 65% đang làm việc tại thời điểm khảo sát chủ yếu làm thợ thủ công và các thợ khác có liên quan, nhân viên/dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng. Đáng chú ý, 90,9% người lao động cho biết đã nhận được một số hình thức hỗ trợ về việc làm sau khi trở về nước, chủ yếu từ các công ty tuyển dụng. Tuy nhiên, chỉ 34,4% đánh giá các hỗ trợ này thực sự rất hữu ích, trong khi 24,2% cho rằng các hỗ trợ còn khó áp dụng vào thực tế…

Chi phí giảm nhưng vẫn là gánh nặng

Số liệu thống kê cho thấy, chi phí do lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài đã giảm đáng kể so với năm 2021. Bình quân, mỗi lao động chi trả khoảng 125,7 triệu đồng, giảm so với mức 164,9 triệu đồng của năm 2021, trong khi thu nhập tháng đầu tiên tại nước đến tăng từ 22,4 triệu đồng lên 28,1 triệu đồng.

Nhờ đó, chỉ số chi phí do lao động Việt Nam chi trả để làm việc ở nước ngoài (RCI) giảm từ 7,4 xuống còn 4,5. Điều này có nghĩa trung bình người lao động cần khoảng 4,5 tháng thu nhập từ công việc đầu tiên để bù đắp khoản chi phí đã chi trước khi xuất cảnh.

Mặc dù đã có sự cải thiện rõ rệt so với năm 2021, mức chi phí mà người lao động phải chi trả vẫn còn tương đối cao và có sự khác biệt giữa các thị trường tiếp nhận lao động cũng như giữa các nhóm lao động.

Kết quả Khảo sát chuyên sâu về người lao động di cư tại 6 tỉnh, thành phố cho thấy quá trình chuẩn bị trước khi xuất cảnh của người lao động thường kéo dài khoảng 6 tháng. Trong tổng chi phí di cư, chi phí trả cho tổ chức tuyển dụng hoặc cá nhân môi giới chiếm tới 52,8%. Gánh nặng này khiến 53,9% người lao động di cư phải vay tiền để trang trải chi phí trước khi xuất cảnh; đối với những người di cư đến các quốc gia ngoài châu Á, số tiền vay bình quân lên tới 193 triệu đồng.

Hệ lụy tài chính kéo dài ngay cả khi lao động hoàn thành hợp đồng. Mặc dù phần lớn người lao động đã hoàn trả các khoản vay sau khi trở về nước, vẫn còn 8,7% chưa trả hết nợ; tỷ lệ này cao hơn đối với lao động trở về từ Đài Loan (12,4%) và từ các quốc gia ngoài châu Á (26,8%). Tỷ lệ còn nợ cũng cao hơn ở nhóm kết thúc hợp đồng trước thời hạn hoặc phải hồi hương ngoài kế hoạch.

Kiểm toán nhà nước kiến nghị giảm chi phí cho người đi xuất khẩu lao động

Những phát hiện từ Báo cáo thống kê có một số điểm tương đồng với kết quả kiểm toán của KTNN. Trước đó, qua kiểm toán Trung tâm Lao động ngoài nước thuộc Bộ Nội vụ - đơn vị đưa gần 10.000 lao động đi làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Đức mỗi năm, KTNN đã chỉ ra những điểm chưa hợp lý liên quan đến chi phí đối với người đi xuất khẩu lao động.

Thực tế kiểm toán cho thấy, dù là đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động phi lợi nhuận và thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội cho đối tượng yếu thế, Trung tâm vẫn phải nộp hơn 5 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp mỗi năm. Khoản chi phí này làm gia tăng chi phí mà lao động đi xuất khẩu phải gánh chịu.

Với tinh thần đồng hành và xây dựng chính sách, KTNN kiến nghị các cơ quan quản lý nhà nước rà soát, giảm chi phí cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đây là giải pháp thiết thực không chỉ giúp tối ưu hóa chi phí cho người dân mà còn bảo đảm tính minh bạch, nhất quán trong chính sách an sinh, qua đó giảm gánh nặng tài chính và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động trên hành trình vươn ra thế giới.

Giải pháp toàn diện hỗ trợ lao động di cư quốc tế

Từ kết quả khảo sát, Cục Thống kê và IOM cũng kiến nghị tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ lao động di cư quốc tế, đặc biệt đối với lao động trẻ và lao động khu vực nông thôn; ưu tiên giảm chi phí di cư, kiểm soát và minh bạch hóa các khoản thu, chi phí không chính thức. Đồng thời, thúc đẩy các kênh di cư an toàn, hợp pháp, minh bạch; mở rộng tiếp cận tín dụng chính thức và đẩy mạnh truyền thông, tư vấn, giám sát và xử lý môi giới trái phép, di cư không chính thức.

Báo cáo cũng kiến nghị tiếp tục đa dạng hóa thị trường lao động ngoài nước, đồng thời đánh giá kỹ lưỡng chi phí di cư, điều kiện làm việc, khả năng tiếp cận tài chính, bảo vệ quyền lợi và cơ hội phát triển nghề nghiệp trước khi mở rộng các chương trình hợp tác. Tăng cường cung cấp thông tin minh bạch, dễ tiếp cận về hợp đồng lao động, điều kiện sống và làm việc, quyền lợi, an toàn và rủi ro tại nước đến; đồng thời nâng cao vai trò của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong hỗ trợ người lao động.

Bên cạnh đó, cần tăng cường chính sách hỗ trợ tái hòa nhập thị trường lao động cho lao động hồi hương, đặc biệt đối với những người còn khó khăn về việc làm và tài chính. Việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống thu thập, cập nhật và phân tích dữ liệu về di cư lao động quốc tế là cơ sở để theo dõi chi phí di cư, điều kiện làm việc, tình trạng hồi hương và tái hòa nhập của người lao động; qua đó, nâng cao chất lượng dữ liệu phục vụ giám sát SDG 10.7.1 và hoạch định chính sách về di cư an toàn, bền vững…

Nhìn từ dữ liệu thống kê và kết quả kiểm toán, giảm chi phí đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài không chỉ là bài toán về tài chính, mà còn là vấn đề về hiệu quả chính sách và bảo vệ quyền lợi người lao động. Minh bạch các khoản thu, kiểm soát chi phí và mở rộng các kênh di cư an toàn sẽ góp phần giảm gánh nặng đầu vào, nâng cao khả năng tích lũy và cải thiện thu nhập cho người lao động. Đây cũng là cơ sở để hoạt động xuất khẩu lao động thực sự phát huy hiệu quả kinh tế và giá trị an sinh./.

MINH ANH

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/giam-chi-phi-xuat-khau-lao-dong-goc-nhin-tu-kiem-toan-va-con-so-thong-ke