Nửa cuộc đời gieo màu xanh

Nơi núi rừng Tây Bắc, hiếm có loại cây nào mang sức sống mãnh liệt và trường tồn, gắn bó với đồng bào Mông như pơ mu. Bám rễ sâu vào đất núi, qua bao mùa gió rét, cây vẫn xanh tốt giữa đại ngàn, như người vùng cao bền bỉ, can trường trước mọi gian khó.

Khi những cánh rừng pơ mu vì nhiều lý do dần thưa bóng, thì ở thôn Háng Tủa Chử, xã Púng Luông, vẫn có gần 6 ha, trong đó có hàng nghìn cây pơ mu lớn, nhỏ đang lên xanh tốt. Đây là thành quả qua hơn 30 năm của một lão nông người dân tộc Mông.

Khi nắng trải vàng khắp núi rừng, từ ngôi nhà bên lưng núi, theo bước ông Lù Khua Sử, chúng tôi đi thăm rừng. Hai bên lối đi, vầu và cây rừng “quấn quýt”, từng mảng xanh nối nhau theo sườn núi.

Cứ ngỡ hành trình sẽ nhẹ nhàng, nhưng khi rời đường chính, lối lên rừng pơ mu bỗng dựng đứng, đôi chân phải ghì chắc, đôi tay phải bám vào thân vầu để giữ thăng bằng. Gió từ khe núi thổi mát lạnh, nhưng mồ hôi vẫn ướt lưng áo, hòa cùng nhịp thở gấp gáp. Giữa gian nan, lòng lại dâng lên một niềm hân hoan kỳ lạ: cảm giác được chạm vào sự hùng vĩ nguyên sơ của núi rừng.

Dù sắp bước vào tuổi tám mươi, ông Sử vẫn đi đầu, tay cầm dao phát gạt từng cành cây chắn lối. Dừng chân, ông đưa bàn tay khẳng khiu nhưng rắn chắc vuốt lên thân một cây pơ mu to gần một vòng tay ôm, như gửi gắm một lời nhắn nhủ thầm kín. Giọng ông thì thầm, không hẳn nói với chúng tôi, mà như trò chuyện cùng núi rừng: “Tuần nào cũng phải lên đây một lần”.

Nhìn ông, tôi chợt thấy rừng không chỉ là phần đất được giao quản lý, mà mỗi thân cây nơi đây đều gắn bó máu thịt. Ông như người lính gác rừng, lặng lẽ nhưng kiên định, để nhịp sống của núi rừng hòa vào nhịp sống của con người.

Theo ông Sử kể, đến đời mình đã thuộc thế hệ thứ chín, thứ mười bám rễ ở Púng Luông. Sinh năm 1947, cùng trang lứa, tuổi trẻ của ông đi qua những năm tháng đất nước còn chiến tranh, với bao khó khăn, vất vả.

Những năm 70 của thế kỷ trước, ông tham gia dân công hỏa tuyến bên đất bạn Lào. Những đóng góp trong kháng chiến chống Mỹ của ông đã được Nhà nước ghi nhận bằng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì.

Hoàn thành nghĩa vụ trở về quê hương, ông lại gắn cuộc đời với ruộng nương, bản làng và những sườn núi. Bởi vậy, với ông, rừng không chỉ là đất đai được giao để quản lý, mà còn là một phần của nơi chôn nhau cắt rốn.

Với người Mông ở vùng cao, pơ mu từ bao đời luôn hiện diện trong cuộc sống. Gỗ pơ mu được dùng làm nhà, tấm lợp, làm những vật dụng bền chắc trong gia đình. Những khúc gỗ, cành cây còn lại thành củi sưởi trong mùa đông. Củi pơ mu cháy đượm, tỏa mùi thơm đặc trưng.

Bếp lửa trong căn nhà vùng cao không chỉ để nấu ăn, sưởi ấm, mà còn là nơi người thân quây quần sau một ngày lên nương, nơi người già kể chuyện cho con cháu. Pơ mu vì thế đi vào đời sống người Mông một cách tự nhiên, từ mái nhà đến bếp lửa, từ những vật dụng thân thuộc đến ký ức của mỗi gia đình.

Căn nhà của ông Sử qua bao năm tháng vẫn giữ lại những dấu vết ấy. Một số đồ dùng, vài tấm lợp bằng pơ mu do ông và người thân ngày trước đi lấy gỗ về làm. Ngồi giữa căn nhà đã gắn với cuộc đời mình, ông nhớ rất rõ những cánh rừng ngày trước, khi bước lên núi là gặp những thân pơ mu lớn vài người ôm không xuể.

Sau nhiều năm phát rừng làm nương, làm bãi chăn thả gia súc, đặc biệt có thời kỳ, pơ mu lên ngôi, được thị trường ưa chuộng. Rừng bị khai thác cạn kiệt, pơ mu cũng dần mất bóng. “Nếu chỉ lấy đi mà không trồng lại, rồi sẽ đến ngày con cháu không còn biết đến cây pơ mu”, ông Sử chia sẻ khi được hỏi vì sao lại trồng rừng pơ mu.

Nghĩ là làm. Năm 1995, ông bắt đầu đi tìm cây giống. Hỏi thăm mãi, nghe nói trên đỉnh Tà Cây Đằng, khu vực gần ranh giới Púng Luông và Chế Tạo, vẫn còn cây pơ mu lớn, ông cùng người con trai cả Lù Bùa Lử gói cơm vượt núi đi tìm.

Một chuyến đi không thấy. Rồi lại thêm những chuyến khác. Giữa những sườn núi cao, hai cha con lần tìm từng cây con mọc dưới tán rừng. Sau nhiều lần, bố con ông mang về được hơn 3.000 cây giống, đủ để trồng trên gần 6 ha đất rừng được Nhà nước giao cho gia đình quản lý, bảo vệ.

Có cây giống, nhưng làm thế nào để cây sống và lớn lên giữa đất rừng vùng cao. Ông tìm đến cán bộ Lâm trường Púng Luông để hỏi cách trồng, chăm sóc. “Cán bộ lâm trường bảo, cây cách cây 7 m, hàng cách hàng 5 m, phải đào hố trồng cây, cây nào chết hoặc yếu thì trồng thay”, ông Sử nhớ lại.

Những năm đầu, không ít cây pơ mu chết vì sương muối, vì những đợt rét đậm khắc nghiệt nơi vùng cao. Có cây vừa bén rễ đã khô lại sau một đêm giá buốt. Những cây chết, ông Sử lại trồng dặm. Cỏ mọc, ông phát dọn thực bì. Đàn gia súc có thể đi qua làm gãy cây non, ông tìm cách quản lý, bảo vệ khu vực trồng rừng. Mùa khô đến, ông lại kiểm tra những khoảnh rừng có nguy cơ cháy, chủ động phát dọn, phòng ngừa.

Cứ thế, hết mùa này đến mùa khác. Không có bước ngoặt nào thật lớn, chỉ có những cây chết được trồng lại, cây lớn nhanh, vững chắc sau mỗi đợt rét, mỗi mùa khô. Hơn 30 năm sau, những cây pơ mu nhỏ bé năm nào đã thành những thân cây to vươn cao trên sườn núi, nổi bật giữa màu xanh ken dày của vầu và những loài cây rừng khác.

Từ người từng lấy gỗ trong những năm tháng khó khăn, ông Sử đã dành hơn nửa đời còn lại để gieo lại màu xanh. Một sự thay đổi không ồn ào, được đo bằng chính thời gian của cây. Năm 2013, những việc làm của ông được Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái tặng Bằng khen về thành tích trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Từ cách làm của ông Sử, người Mông trong bản cũng dần thay đổi cách nghĩ. Giữ rừng không còn là việc của riêng một gia đình, mà trở thành việc chung của cộng đồng. Rừng được nhìn khác đi: không chỉ là nơi lấy gỗ, lấy củi, mà còn là nguồn nước, đất đai, không gian sống và sinh kế lâu dài.

Những mầm xanh được gieo từ Háng Tủa Chử hôm nay cũng đang nối dài màu xanh của Khu Bảo tồn thiên nhiên Chế Tạo, để những cánh rừng nơi đây không chỉ giữ đất, giữ nước cho bản làng, mà còn góp thêm một khoảng xanh cho đại ngàn.

Từ ngày giữ được rừng, khí hậu trở nên trong lành, nguồn nước dồi dào phục vụ sản xuất, cây trái cũng cho năng suất và chất lượng tốt hơn. Đáng mừng hơn, thời gian này ở Háng Tủa Chử đã có người tìm đến thuê đất, dựng nên những căn bungalow phục vụ khách du lịch.

Vậy là du khách bốn phương bắt đầu tìm đến. Cảnh quan, không gian bản làng, văn hóa người Mông cùng màu xanh bất tận của núi rừng đang mở ra hướng mới để Púng Luông kể câu chuyện của mình - câu chuyện về sự hồi sinh, về niềm tin và tương lai xanh.

Rời khu rừng pơ mu, đường xuống núi dễ đi hơn lúc lên. Sau lưng, những thân cây pơ mu vẫn đứng lặng, vững vàng tỏa bóng trên sườn núi. Tôi chợt nghĩ, theo thời gian, rồi sẽ đến lúc nào đó những bước chân quen thuộc của người đàn ông dân tộc Mông kiên cường ở thôn Háng Tủa Chử không còn in dấu trên lối đường rừng. Nhưng chắc chắn những cây ông trồng năm xưa vẫn còn ở lại, tiếp tục vươn cao, đứng vững giữa đại ngàn như một phần ký ức của đất và người Púng Luông.

Nguyễn Đình Tứ

Nguồn Lào Cai: https://baolaocai.vn/nua-cuoc-doi-gieo-mau-xanh-post912144.html