Đề tài thuyết giảng của chúng tôi hôm nay là: "Đức Phật của chúng ta" chắc cũng làm cho một số Phật tử ngạc nhiên. Chúng ta là Phật tử, thời Đức Phật của chúng ta là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni rồi, còn cần gì thêm mà phải thuyết giảng.
Một tin nhắn đã được xem nhưng chưa có hồi âm đôi khi đủ khiến ta nghĩ rằng người kia đang lạnh nhạt. Một lời góp ý trong cuộc họp có thể bị hiểu thành sự coi thường. Một ánh mắt thoáng qua dễ bị gán cho ý nghĩa khinh miệt, dù người đối diện hoàn toàn không có chủ ý ấy.
Luật tạng Phật giáo quy định, người tu bình thường hoặc có chút thần thông rồi tự huyễn đã chứng Thánh, tuyên bố mình đã đắc đạo thì mắc tội đại vọng ngữ. Hoặc người ấy dù không tuyên bố nhưng được thế gian tung hô là Phật, là A-la-hán nếu không cải chính, lại thầm tự mãn cũng mắc trọng tội.
Bố-tát là mạng mạch của Tăng đoàn, nên không có chúng Tỷ-kheo nào được gọi là Tăng mà không thực hành Bố-tát, ngoại trừ những kẻ lạm dụng Tăng để phá hoại Chánh pháp. Chỉ có ngoại đạo, kẻ tà kiến mới làm như vậy. Vì tính chất của Bố-tát là như vậy nên không thể không có Bố-tát trong sự sinh hoạt của Tăng.
Nằm ẩn mình giữa không gian thanh bình của vùng đất Vĩnh Long, chùa Giác Linh (thường được dân gian gọi là Chùa Dơi) là nơi minh chứng sống động cho sự giao thoa văn hóa và lịch sử. Với tuổi đời hơn hai thế kỷ, ngôi cổ tự này không chỉ là một biểu tượng tự hào của Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ mà còn mang đậm dấu ấn di sản lịch sử và nghệ thuật kiến trúc.
NSGN - Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ngụ tại vườn Cấp Cô Ðộc, trong rừng Kỳ-đà, thuộc nước Xá-vệ.
Vì pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, khéo khai thông khéo khai thị, nên giúp các vị hành trì có thể chứng được bốn Thánh quả, là quả A-la-hán, quả Bất lai, Quả Nhất lai, quả Dự lưu.
Hơn hai mươi lăm thế kỷ trước, Ấn Độ từng chứng kiến sự xuất hiện của một nhân vật lịch sử mà cách thái giác ngộ đã làm lay động cả một truyền thống tâm linh được tôn sùng thời bấy giờ.
Nếu một pháp môn khiến tâm mình lắng dịu hơn, sống tử tế hơn, biết hướng thiện hơn, thì đó đã là điều đáng quý. Bởi sau cùng, điều chư Phật muốn cứu độ trước tiên… chính là nỗi khổ trong tâm con người.
Tiêu biểu trong số đó là Mật điển Guhyasamaja (Cát Tường Mật Tập), được tôn xưng là 'Vua của các Mật pháp'. Đây là một trong những hệ thống kinh điển và thực hành cổ đại, đóng vai trò nền tảng cốt lõi của Phật giáo Kim Cương thừa.
Sự ra đời của đức Phật không chỉ là một câu chuyện lịch sử, mà là món quà vô giá, mang đến ánh sáng an lạc, bình đẳng và hòa bình cho mọi tầng lớp nhân loại, vượt qua mọi ranh giới tôn giáo, văn hóa hay thời gian.
Mỗi bộ kinh trong truyền thống Đại thừa (Mahāyāna) đều chuyển tải phương pháp tu tập và kinh nghiệm tự thân của mỗi vị Bồ-tát. Có nhiều pháp môn (S. Dharma paryāya, E. Dharma gate) tu tập trong Phật giáo, và tùy theo trình độ cũng như căn cơ thích hợp của mỗi người tu tập mà mỗi pháp môn có thể đáp ứng.
Hạnh Phật (Buddha-cariyā) rất cao quý và rất an ổn mà bất cứ người nào phát nguyện theo đuổi thì đều trở nên thanh cao và hưởng được phúc lạc lớn.
Luân hồi (saṃsāra) là sự sống chết nối tiếp nơi một chúng sinh. Như chúng ta biết, dòng nhân quả diễn biến một cách tương tục mà không bị hạn cuộc trong đời sống hiện tại. Do đó khi nào còn tham sống và gây nghiệp (karma) thì lúc đó chúng ta sau khi chết vẫn còn sinh trở lại và nhận lấy quả báo.
NSGN - Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ngụ tại vườn Cấp Cô Ðộc, trong rừng Kỳ-đà, thuộc nước Xá-vệ.
Mùa An cư thứ năm sau ngày thành đạo, Đức Phật cho phép thành lập Giáo hội Ni. Những thử thách buổi đầu của Ngài, là những lời giáo huấn vô ngôn cho bản chất Ni chúng. Vượt qua nó, và chứng tỏ khả năng giải thoát của mình, là công hạnh của Di mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề (Mahāpajāpatī) và chư vị Thánh Ni.
Đức Phật trong Kinh Milindapanha được đề cập đến một cách khá đầy đủ, trên mọi phương diện, góc cạnh, rất đời thường, dễ hiểu về một con người phi thường, vĩ đại.
Trong kinh Pháp hoa có thí dụ hạt châu. Phẩm Ngũ bá đệ tử thọ ký, 500 vị A-la-hán sau khi được Phật thọ ký, vui mừng nói lên thí dụ, như một người nghèo khổ đến nhà bạn thân, uống rượu say nằm ngủ. Người bạn có việc quan phải đi nên lấy một hạt châu quý cột trong chéo áo anh chàng.
Lấy 'Sơ Tâm' làm điểm tựa, ta có thể làm mới mình mỗi ngày, để mỗi bước chân trên hành trình nhân sinh đều là một sự khởi đầu thiện lành, nhẹ nhàng, vững chãi và thấm đượm tuệ giác Phật giáo.
Hội Long Hoa là một hình tượng tổng hợp của triết lý – tôn giáo – văn hóa, biểu hiện niềm tin bền vững của nhân loại vào thiện pháp và công bằng vũ trụ.
Phẩm 'Không thể có được' nêu lên giá trị đạo đức, luân lý phải có của một người đạt tới chính kiến, cái thấy tương ưng với thực tướng vô thường, vô ngã, vô ngã tướng.
Thấy 'thân chỉ là thân' tức để chúng ta ghi nhận sự vận hành, ở đúng thực tại đang xảy ra, không đồng hóa bản ngã, không xem thân là 'tôi', 'của tôi', 'là tự ngã của tôi', mà chỉ thấy các hành diễn ra tại nơi thân.
Ai nhận ra chân lý đó thì đoạn trừ khổ đau, bất kể họ là ai. Và vì thế, giáo dục nữ giới cũng quan trọng ngang bằng với nam giới, trong mọi phương diện của con đường giải thoát.
Người nữ không chỉ là 'một nửa thế giới', mà là nguồn năng lượng nuôi dưỡng từ bi và trí tuệ cho cả nhân loại.
Phát triển AI trong ánh sáng từ bi và trí tuệ của Phật học không chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghệ, mà còn khẳng định rằng: AI là một phương tiện giúp giảm khổ đau và tăng trưởng hạnh phúc chung.
Một dạng dục trong ham muốn nhiều hơn, còn một dạng dục trong mong muốn tốt hơn, rèn luyện để trưởng dưỡng trí tuệ. Nếu nói cả hai dục đều là 'tham' giống nhau thì giống như đánh đồng nước đục và nước trong chỉ vì chúng đều là 'nước'.
Có người bỏ vài triệu đồng, ghi tên mẹ vào tờ sớ vàng rồi ung dung ngồi quán cà phê chờ thầy làm lễ, thế là lòng an nhiên tự nhủ: 'Tôi đã tròn chữ hiếu!'.
Sáng 28-8, tại Bảo tàng đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn (114 Mai Thúc Loan, P.Phú Xuân, TP.Huế) đã diễn ra Lễ khai mạc triển lãm 'Ngọc - ngà trong nghệ thuật tín ngưỡng' do nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn tổ chức.
NSGN - Trong bài viết này, tôi muốn tập trung vào tính biểu tượng của bảo tháp (stūpa) Phật giáo. Ở nghĩa đơn giản nhất, bảo tháp là nơi lưu giữ xá-lợi và là một biểu tượng Niết-bàn của Đức Phật.
Nếu lá cây Trú độ Tam thập tam thiên úa vàng, lúc đó thiên chúng ở Tam thập thiên vui mừng hớn hở, cho rằng lá cây Trú độ chẳng bao lâu nữa sẽ rụng. Rồi thì lá cây ở Tam thập tam thiên đã rụng. Lúc đó chư thiên ở Tam thập tam thiên vui mừng hớn hở cho rằng lá cây Trú độ chẳng bao lâu nữa sẽ mọc lại...
NSGN - Sau lễ khai trương Bảo tàng Phra Ajaan Mun, Luang Pu đã đi xa hơn để thăm Trưởng lão Ajaan Funn tại động Khaam Cave. Vào thời đó, các xe lớn không thể đi xa hơn chân đồi nơi có hang động, nghĩa là Luang Pu phải leo một quãng đường dài lên đồi.
Các thành viên trong gia tộc của Đức Phật cũng phát tâm xuất gia, kể cả con trai của Ngài là La-hầu-la, người sau này đã chứng đắc quả vị A-la-hán (Arahat) giống với phụ thân của Ngài là vua Tịnh Phạn.
Phật thuyết thị kinh dĩ, Trưởng lão Tu-bồ-đề, cập chư tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, nhất thiết thế gian, thiên, nhân, A-tu-la... văn Phật sở thuyết giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.
Hôm ấy có nhiều vị trưởng giả, quý tộc mời Phật đến nhà thọ trai, nhưng Ngài nhận lời mời của Liên Hoa Sắc - kỹ nữ nổi danh ở thành Vesāli.
Sự giáo dục dành cho phụ nữ được đề cập trong các văn bản cổ đại của Phật giáo là vô cùng hạn chế. Gần như không có bằng chứng rõ ràng hoặc ghi chép cụ thể về việc họ được giáo dục bài bản, dù là trong gia đình hay trong các môi trường học tập chính thức.
NSGN - Sau khi Đức Thế Tôn thành đạo dưới cây Bồ-đề, Ngài nhìn chăm chú không nháy mắt để tri ân cây Bồ-đề đã từng che nắng mưa cho Ngài trong thời gian chiến đấu ác ma (māra), thành Bậc Chánh giác.
Đức Phật Gautama đã giác ngộ trong khi đang thiền định dưới cội bồ-đề ở Bodh Gaya, Ấn Độ. Hai tháng sau, Đức Phật đã thuyết giảng bài pháp đầu tiên cho năm người bạn đồng tu khổ hạnh trước đây tại Vườn Nai ở Isipathana. Vài ngày sau, cả năm người đều đạt Thánh quả A-la-hán và họ trở thành những đệ tử đầu tiên.
Minh trong đạo Phật là tuệ giác, thấy biết như thật về vạn pháp. Khi thành đạo, Đức Phật chứng Tam minh (Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh). Các bậc Thánh A-la-hán chứng đạo thì vô minh diệt và minh sinh.
Pháp độc cư trong Phật giáo Nguyên thủy không chỉ là lựa chọn mang tính ẩn tu, mà là con đường thiết yếu để phát triển định tuệ và đi đến giải thoát.
NSGN - Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật trú tại rừng Nhất-xa-năng-già-la (2) .
Sau nhiều năm rời nhà tìm đạo giải thoát, Đức Phật trở về kinh thành Ca Tỳ La Vệ thăm gia đình, con trai 7 tuổi của ngài là La Hầu La xin cha trao gia tài cho mình.
Trước khi trở thành vị tỳ kheo ni đầu tiên, kế mẫu của Đức Phật 3 lần thỉnh cầu ngài cho phụ nữ xuất gia nhưng đều bị cự tuyệt; vì sao ngài lại từ chối?
Trong nhiều bản kinh, La Hầu La - con trai Phật Thích Ca - được Đức Thế tôn ngợi khen là người khiêm tốn, nhẫn nhục và biết tự phản tỉnh.
Sự kiện Đức Phật đản sinh vào thế giới loài người được ghi nhận là một sự kiện đặc biệt hy hữu trong lịch sử nhân loại.
NSGN - Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật du hóa trong nhân gian ở nước Câu-tát-la rồi dần đi đến thôn Nhất-na-la, 2 trú trong rừng Nhất-na-la.
Rất lâu trước thời Đức Phật đã có những phương pháp tu khổ hạnh khác nhau. Những người chấp nhận những phương pháp tu khổ hạnh này tin rằng chúng có thể giúp họ giải thoát khổ đau.
NSGN - Rất lâu trước thời Đức Phật đã có những phương pháp tu khổ hạnh khác nhau. Những người chấp nhận những phương pháp tu khổ hạnh này tin rằng chúng có thể giúp họ giải thoát khổ đau.
Người đã hoàn toàn đoạn tận thì đối tượng nào cũng thế, bình đẳng như nhau, như cái cây đã khô héo, chặt nhỏ, chặt nhiều hay chặt đứt, chặt bằng cái gì cũng như nhau, cũng không tìm được ra nhựa cây.
Đức Phật không còn ở thế gian, nhưng ánh sáng Chính pháp vẫn luôn rạng ngời.
NSGN - Tại sao Đức Phật trở nên mệt mỏi với thế gian?
Sau mùa an cư thứ năm tại Vesāli, Đức Phật cho phép Di mẫu Gotami cùng 500 người nữ dòng họ Sākiya và Koliya xuất gia. Bát kỉnh pháp là giới điều đầu tiên của các Tỳ-kheo-ni.