Nhu cầu vốn chuyển đổi xanh ngày càng lớn, nhưng doanh nghiệp vẫn phải chứng minh hiệu quả tài chính, khả năng trả nợ và mức giảm phát thải để tiếp cận tín dụng.
Đổi mới quy định về đảng viên làm kinh tế tư nhân cần hướng tới giải phóng nguồn lực phát triển, bảo đảm quyền kinh doanh bình đẳng, đồng thời ngăn ngừa việc lợi dụng quyền lực công để trục lợi cá nhân. Đây là khẳng định của TS. Nguyễn Quốc Việt - chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) khi trả lời phỏng vấn của Báo Tài chính - Đầu tư.
Thị trường carbon đã đi vào vận hành, song thanh khoản còn hạn chế, trong khi khả năng tạo doanh thu từ tín chỉ vẫn phụ thuộc vào nhiều điều kiện...
Năng lực chuẩn bị dự án, dữ liệu phát thải và tính chắc chắn của nguồn thu từ tín chỉ carbon đang là những rào cản lớn đối với quá trình tiếp cận tín dụng xanh.
Theo ADB, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung cho ứng phó biến đổi khí hậu và giảm phát thải đến năm 2040. Dù nhu cầu vốn lớn, còn nhiều rào cản, doanh nghiệp vẫn sẵn sàng đầu tư công nghệ xanh. Để khơi thông nguồn lực, cần đa dạng kênh huy động vốn ngoài tín dụng ngân hàng, trong đó có phát triển thị trường carbon.
Để tiếp cận nguồn vốn xanh dài hạn với lãi suất ưu đãi, lãnh đạo một doanh nghiệp tái chế giấy cho biết từng phải mời chuyên gia đầu ngành giải thích về công nghệ và hiệu quả dự án với ngân hàng.
Cùng với mở rộng tín dụng xanh, thị trường carbon được kỳ vọng tạo thêm nguồn lực tài chính, giảm áp lực vốn cho doanh nghiệp chuyển đổi xanh.
Theo Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh, thị trường carbon vận hành hiệu quả có thể giúp doanh nghiệp tạo nguồn lực từ chính kết quả giảm phát thải, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, NHNN đã hoàn thiện khuôn khổ chính sách, ban hành các định hướng, hướng dẫn về tín dụng xanh, thúc đẩy phát triển các sản phẩm tín dụng xanh.
Triển khai Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 280/NQ-CP của Chính phủ, Việt Nam cần chuyển từ thu hút vốn đơn thuần sang lựa chọn dự án có chất lượng, đồng thời chuẩn bị thể chế, hạ tầng, nhân lực và cơ chế thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây là điều kiện để dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không chỉ đóng góp vào sản xuất, xuất khẩu mà còn tạo giá trị gia tăng và góp phần củng cố nội lực nền kinh tế.
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và sản xuất công nghệ cao đang mở ra những hướng đi khác nhau cho thị trường bất động sản công nghiệp Việt Nam. Chia sẻ với PV Báo Tài chính - Đầu tư, ông John Campbell - Giám đốc phận Dịch vụ Bất động sản Công nghiệp, Savills Việt Nam cho rằng, mỗi nhóm dự án có yêu cầu riêng về địa điểm, trong khi lợi thế của từng địa phương cần được đánh giá dựa trên năng lực hạ tầng và khả năng triển khai thực tế.
Thị trường carbon đang mở ra một cách tiếp cận mới đối với bài toán vốn cho chuyển đổi xanh: biến kết quả giảm phát thải thành một giá trị có thể được ghi nhận, giao dịch và từng bước đi vào quyết định đầu tư. Nhưng để điều đó xảy ra, Việt Nam cần cả hệ thống dữ liệu, tiêu chuẩn, định giá, tín dụng và thị trường vốn đủ tin cậy để biến giá trị carbon thành tín hiệu tài chính.
Doanh nghiệp nội vẫn khó chen chân vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Chi phí sản xuất cao, thiếu vốn, hạn chế về công nghệ và quy mô khiến nhiều doanh nghiệp Việt chưa thể trở thành nhà cung ứng của các tập đoàn FDI.
Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương, Việt Nam không thu hút FDI bằng mọi giá mà sẽ lựa chọn đối tác để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam không thu hút FDI bằng mọi giá, mà sẽ lựa chọn đối tác để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam thu hút FDI không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực, để nâng cao năng suất, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Ngày 8/10, dưới sự bảo trợ của Bộ Tài chính, tại Hà Nội, Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức Tọa đàm “Kết nối doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng toàn cầu”. Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương tham dự và phát biểu tại sự kiện.
Tập trung kiểm tra theo dấu hiệu rủi ro, chuyên đề và tính tuân thủ, Chi cục Hải quan khu vực I đã truy thu, tăng thu hơn 134 tỷ đồng từ công tác kiểm tra sau thông quan. Nguồn thu tập trung ở các lĩnh vực phát sinh chênh lệch thuế như mã số hàng hóa, gia công - sản xuất xuất khẩu.