Trọng tâm giáo lý được truyền giảng cho cư sĩ Cấp Cô Độc bao gồm hệ thống thực hành buông xả hoàn toàn đối với sáu nội xứ, sáu ngoại xứ và sáu thức.
NSGN - Trong lịch sử Phật giáo, Chánh pháp chưa từng tồn tại như một thực thể tách rời khỏi đời sống xã hội. Giáo pháp được truyền thừa không chỉ nhờ sự thanh tịnh và nghiêm mật của Tăng đoàn, mà còn nhờ sự nâng đỡ bền bỉ của hàng cư sĩ.
Khi đó, cư sĩ không chỉ là người ủng hộ thụ động, mà là chủ thể có tri thức, có trách nhiệm và có năng lực đồng hành cùng Tăng đoàn trong việc gìn giữ và phát huy giá trị Phật giáo giữa đời sống hiện đại.
Không ai đủ tiền mua, nữ tỷ phú bỏ 90 triệu đồng tiền cổ mua chiếc áo kết bằng vàng gắn hàng ngàn viên ngọc của chính mình để xây tịnh xá cho Đức Phật và Tăng đoàn.
Khu vườn mà tỷ phú Cấp Cô Độc dùng làm tịnh xá đón Đức Phật cùng tăng đoàn được ông mua với cái giá siêu đắt: Dùng vàng lát kín mặt vườn.
Tâm cũng như chiếc bát, mỗi ngày đều cần được lau chùi. Không ai sống giữa cuộc đời mà tâm không dính bụi. Nhưng bụi có bám hay không không phải điều quan trọng, mà là ta có chịu cầm chiếc khăn chính niệm lên mà lau hay không.
Đức Như Lai ra đời thuyết pháp khiến mọi người sống hạnh phúc hiền lương, xứ sở an vui thái bình, cả loài người và trời hân hoan tu học Phật pháp và cùng nỗ lực khuyến khích nhau gieo trồng thiện pháp.
Với những cống hiến đặc biệt cho đạo pháp và dân tộc, chúng ta có thể nhận thấy các vị cư sĩ chính là những vị Bồ tát đã tham gia vào thế tục, cùng góp phần xây dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm.
Ai nhận ra chân lý đó thì đoạn trừ khổ đau, bất kể họ là ai. Và vì thế, giáo dục nữ giới cũng quan trọng ngang bằng với nam giới, trong mọi phương diện của con đường giải thoát.
Thiền viện Sùng Phúc là một minh chứng sống động cho sự phục hưng và tiếp nối truyền thống thiền Trúc Lâm Yên Tử trên đất Thăng Long ngàn năm.
Sống trong pháp Không không phải là trốn tránh cuộc đời, cũng không phải là phủ nhận mọi giá trị. Đó là sống giữa đời mà không bị đời trói buộc, thấy mọi sự như chúng thật là, buông bỏ ngã chấp để tâm an trú, tự do.
Có quan niệm rằng người có danh phận, giàu sang là do phước và cúng dường, hộ trì người có phước thì được phước nhiều hơn? Có thể là như vậy nhưng cũng có thể không như vậy.
Các thành viên trong gia tộc của Đức Phật cũng phát tâm xuất gia, kể cả con trai của Ngài là La-hầu-la, người sau này đã chứng đắc quả vị A-la-hán (Arahat) giống với phụ thân của Ngài là vua Tịnh Phạn.
Tái sinh về các cõi trời là một phước báo lớn. Trong giáo pháp của Đức Phật có Thiên thừa, tức những pháp tu thành tựu phước báo để tái sinh cõi trời, nhất là những cõi trời Dục giới. Tu tập mười điều thiện (mười nghiệp của thân, khẩu, ý đều thiện lành) là những nhân hạnh căn bản.
Đến tuổi 80, Đức Phật lâm bệnh nặng ở thành Vệ-xá-li và khẳng định rằng mình sẽ qua đời, hoặc nhập niết-bàn sau ba tháng nữa.
Đức Thế Tôn là minh chứng cho bậc giác ngộ của thế gian thì Anāthapiṇdịka và Visākhā là minh chứng cho sự bố thí cúng dường, hộ trì Tam bảo bằng những câu chuyện mang đậm tính lịch sử.
Thế Tôn đã dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những thứ bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc lối, đem đèn sáng vào căn phòng tối. Cũng vậy, Chính pháp được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện để giải thích.
Ngoài các liệu pháp điều trị thuộc về tâm lý học Phật giáo thì tiến trình hoạt động điều trị bệnh cũng phải tuân theo các chỉ định từ bác sĩ chuyên môn, kết hợp các dược liệu đúng liều lượng, cân nhắc đối với các thuốc giả thuốc chứa các chất độc hại nguy hiểm cho con người,...
Thế Tôn dạy những lời nói thuần tịnh như phơi bày những thứ bị che kín, chỉ đường cho những ai còn đang lạc lối, đem ánh sáng vào nơi tối tăm, Chính pháp nhờ đó đã được Ngài dùng phương tiện làm sáng tỏ.
Đức Thế Tôn đưa tới lộ trình nhận thấy rõ quá trình pháp bất thiện chưa hiện khởi, khởi lên, và đoạn diệt, sống với nội tâm không bị phiền trược, tuệ tri chứ không dạy chúng sinh tranh cãi về những lý luận siêu thực, vượt qua khả năng thực chứng.
Nếu một vị niệm Phật, Pháp, Tăng nhưng niệm xả không được tương ưng, và không an trú vào thiện pháp, vị ấy vẫn sẽ bị dao động, bị cảm thấy bất an, bất hạnh, khổ đau mà không cảm thấy hoan hỷ.
Thế Tôn tuyên thuyết những phương pháp đoạn trừ phiền não, thực hành các pháp của bậc Chân nhân, tu tập các pháp của bậc Chân nhân, phát triển tuệ tri, như lý tác ý những pháp cần phải tác ý.
Trước khi mất mà tâm an trú vào Phật-Pháp-Tăng thì chắc chắn sẽ sinh vào cõi lành.
Niệm Pháp thuần thục sẽ thành tựu đức tin vào Chánh pháp, tin hiểu duyên sinh, tin sâu nhân quả, tin chắc vào pháp hành cùng đạo lộ dẫn đến giác ngộ, giải thoát.
Niệm Pháp thuần thục sẽ thành tựu đức tin vào Chánh pháp, tin hiểu duyên sinh, tin sâu nhân quả, tin chắc vào pháp hành cùng đạo lộ dẫn đến giác ngộ, giải thoát.
Niệm giới là luôn nhớ nghĩ đến các giới luật đã thọ. Thấy hiểu được các phương diện và lợi ích của thọ trì giới pháp. Giữ giới để ngăn chặn bản thân sa ngã vào đường ác. Giữ giới trọn vẹn sẽ giúp tâm an tịnh và hoan hỷ.
Tăng-già là đoàn thể xuất gia tu học thanh tịnh và hòa hợp. Nên nhớ nghĩ về Tăng-già với những phẩm chất cao thượng sẽ khiến cho tâm được tăng thượng, hiện pháp lạc trú.
Giữ năm giới là khó, giữ gìn một cách hoàn hảo càng khó hơn. Muốn giữ giới hoàn hảo, trước phải học và thông hiểu về mỗi giới cùng các điều kiện liên quan, nhất là biết rõ lợi ích to lớn nhờ giữ giới, hoan hỷ và an lạc trong sự bảo hộ của Thánh giới.
Xa lìa say nghiện là giới thứ năm mà hàng Phật tử phát nguyện giữ gìn.
Không nói dối, nghĩa đầy đủ là không nói hư dối, không nói thô ác, không nói chia rẽ, không nói dua nịnh. Người Phật tử thực hành, gìn giữ giới Không nói dối phải bao gồm bốn phương diện này.
Xa lìa tà hạnh (không tà dâm) có nghĩa chính yếu là nguyện chung thủy với người bạn đời của mình. Người Phật tử đã có gia đình thì không quan hệ tình ái với người khác ngoài vợ hoặc chồng của mình (kể cả các loài phi nhân và súc sanh).
Người đệ tử Phật thực hành pháp thứ hai một cách hoàn hảo là không trộm cướp, chính xác là xa lìa việc lấy của không cho.
Sau khi phát tâm quy y Tam bảo, người Phật tử được khuyến khích giữ giới (thực hành năm pháp), giới thứ nhất là xa lìa sát sinh.
Nhìn cảnh chùa Cổ Am hôm nay, mỗi người trong chúng ta lại cầu mong cho khắp nơi xứ xứ gây dựng đạo tràng, hướng dẫn tu hành để người người được 'tắm gội' dưới ánh sáng Từ quang giả pháp Phật đản...
Chùa Quan Âm hay thường được gọi là Chùa đá Quan Âm là một ngôi chùa nhỏ ở thôn Bãi Giếng Nam, thị trấn Cam Đức, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. chùa rộng khoảng 2.100 mét vuông, ấn tượng đầu tiên khi đến chùa là bước vào thế giới của đá cuội bạt ngàn. Cuội nằm kín khắp mặt đất, cuội trải dài trên những lối đi, cuội ken chặt bốn bức tường rào, cuội dán kín trên thân chùa tháp, cùng với những lằn chỉ kẻ bằng vỏ sò màu sáng như tôn vinh thêm nét trầm mặc của đá cuội ngàn năm…
Có nhiều người chỉ cần nghe chửi, hay bị ai đó nói bóng gió về bản thân là cảm thấy tức tối, phiền não….