Cách đây 60 năm, một ngày tháng 7/1966, trời Ðòn Dong - Tân Quảng trong xanh, các con kênh, mương, mặt ruộng lấp loáng nước; vùng tranh chấp quanh Biệt khu Hải Yến - Bình Hưng của bọn Mỹ - ngụy vẫn yên tĩnh như mọi ngày, nhưng âm thầm trong ấy là sự sôi sục, chờ đợi một trận quyết chiến.
HNN - Năm nay, mới tháng 6 âm lịch nhưng mưa nhiều và lớn quá mức. Một số khu vực ở thành phố Huế ghi nhận lượng mưa kỷ lục. Chợt nhớ mùa mưa năm 1972 ở phía tây thành phố Huế khi chúng tôi mới chân ướt chân ráo tới chiến trường này.
Trưa 1/5/1975, sau khi giải phóng hoàn toàn Sài Gòn, Cần Thơ, quân và dân ta tiến vào giải phóng thị xã Cà Mau, đặt dấu mốc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đại thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. 50 năm trở lại, vùng 'chót đất' từng bước thay da, đổi thịt, hướng tới một tương lai rộng mở cùng dân tộc.
50 năm đã qua, nhưng niềm tự hào về Đại thắng mùa Xuân năm 1975 vẫn sống mãi với những người lính đã trực tiếp chiến đấu và may mắn trở về. Ký ức hào hùng đó mãi là bản hùng ca vang vọng trong cuộc sống hôm nay.
Đầu hè, dù đã hạ đến mức thấp nhất nhưng nước hồ Tả Trạch vẫn mênh mông. May mà ở phía bờ tây còn có động Mang Chang cao sừng sững và mỏm núi Mỏ Tàu ở phía bờ đông hắt bóng mình lên mặt nước đã giúp những người từng tham gia kháng chiến như chúng tôi 'định vị' được quãng sông mà mình từng băng qua, dù những bến bờ năm xưa đã bị phủ lấp.
Tôi đang mở trường tư thục, dạy trên 150 học trò. Bí thư Chi bộ xã Lương Hòa là đồng chí Tư Tài, đem nghị quyết Tỉnh ủy Bến Tre rút tôi về Ban Văn nghệ tỉnh. Chưa kịp thu xếp đi, thì má tôi (bà Hồ Thị Lũy) ở Cà Mau qua tới. Má tôi chẻ trái chuối xiêm ra, đưa cho tôi lá thư ngắn của anh Hai Thống (Trần Hữu Vịnh, Bí thư xã Khánh Bình Tây, sau này là Phó bí thư Tỉnh ủy Minh Hải) kèm theo mấy lời chú Chín Thép, Ủy viên Thường vụ xã (viết chung ý là 'Đám giỗ làm lớn cúng ông bà, chú phải về quê nhà để cúng ông bà báo hiếu').
Ngày 22/12/1972, Đại đội 1, Tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương Hà Tĩnh đã táo bạo tấn công vào sân bay Pha Hom (sân bay dã chiến) thuộc vùng núi phía bắc huyện Mường Mày, tỉnh Bolikhămxay (Lào) và giành thắng lợi vang dội. Là Chính trị viên phó đại đội trực tiếp tham gia chiến đấu, tôi ghi lại chiến công này nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Đại tá Phạm Văn Hóa (nguyên Chánh án Tòa án Quân sự Quân khu IV, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh TP. Huế) đã nhiều lần vào sinh ra tử. Điều ông không bao giờ quên là sự hy sinh cao cả của một chiến sĩ y tá đơn vị khi chưa đầy 19 tuổi - trong một trận đánh ác liệt vào đầu năm 1969 tại căn cứ thôn 8, Cửa Việt (Quảng Trị) - nơi có 'Hàng rào điện tử Mắc Namara' để bảo vệ đồng đội.
Ngày 12/4/1954, hồi 11 giờ 40 phút, chiếc máy bay thứ 50 của địch bị bắn rơi tại Điện Biên Phủ. Đó là một 'pháo đài bay' ném bom 4 động cơ B.24, với tổ bay 9 người, lần đầu bị hạ trên chiến trường Việt Nam.
Hôm đó, khoảng 9 giờ, sau khi pháo kích dữ dội và trực thăng quần thảo, bắn rốckét và đại liên xối xả xuống trận địa chúng tôi, bọn bộ binh mới mò vào. Các công sự tiền duyên nổ súng mãnh liệt tiêu diệt bọn lính gần nhất.
Ngày 01 tháng 2 năm 1973, đại đội 2 - D8 chúng tôi chuyển đến ấp 4 Tân Phú. Trận đánh hôm ấy, tôi và Nguyễn Xuân Ân - quê Xuân Lộc, Can Lộc (Hà Tĩnh), nhập ngũ cùng ngày với tôi - bị thương bởi sự cố ĐKZ khi đang huấn luyện ở Quảng Bình hồi tháng 10/1971 mà tôi đã thuật lại ở phần 'Về Trung đoàn' (vì lý do tế nhị nên tôi không nêu tên thật), ngồi cùng một công sự.
Lúc này khoảng 10 giờ 30. Có tiếng máy bay. Tôi nghĩ nhanh, 'Thế là ăn bom rồi!' Thò đầu ra khỏi hầm nhìn lên, tôi thấy bốn chiếc A37 rầm rộ lao tới đảo mấy vòng rồi bổ nhào theo trái khói chỉ điểm của chiếc trinh sát L19 vẫn dõi theo chúng tôi từ sáng sớm. Tiếng bom rít, xé không khí như xé lụa.
Hôm ấy, lợi dụng nước ròng, địch tắt máy, thả trôi tàu theo dòng nước đang xuống nên chúng tôi không nghe được tiếng máy tàu. Vi chờ đợi lâu ngày, đâm ra chủ quan nên bị động. Nếu không mất cảnh giác, trực sẵn sàng chiến đấu thì ba chiếc tàu hôm đó đã bị nhận chìm trên sông Vàm Cỏ Đông rồi!
Sáng 19-5, địch nống ra càn sớm. Các đại đội bộ binh của tiểu đoàn 9 chạm súng với địch. Vẫn công thức cũ, chúng lui ra gọi pháo và bom. Chúng tôi lại gồng mình lên đội bom, pháo suốt một ngày ròng rã. Biết rõ sự lợi hại của hỏa lực cối 82, chúng tìm cách tiêu diệt.
Trước đó, khi vào trận, một số anh em của đơn vị bạn (đặc công 429) đã đào sẵn một dãy dài 14 cái huyệt ngay cạnh trận địa chúng tôi. Sau khi bị lộ, đánh không dứt điểm, hy sinh nhiều, họ đưa các anh em hy sinh ra mai táng tại đấy nhưng không đủ huyệt; số còn lại phải đưa ra 'cứ' ngoài bưng mới chuyển đi nơi khác chôn cất được.
Trên đầu chúng tôi vẫn vè vè tiếng OV10 và L19. Ở phía Đông, tiếng đại bác vẫn ùng... oàng... dội lại rồi có tiếng gào rít của chiến đấu cơ và tiếng bom. Phía ấy, chắc bộ đội ta đang chống càn...
17 giờ, ngày 11-11-1971, chúng tôi được lệnh lên xe từ rừng cao su của nông trường 1-5 tại địa phận xã Cự Nẫm (Bố Trạch, Quảng Bình). Vào đầu mùa khô nhưng trời vẫn lất phất mưa và se lạnh. Đoàn xe Gats 63, mấy chục chiếc nối đuôi nhau lầm lũi tiến sang phía Tây... Càng đi sâu vào Trường Sơn, tiết trời càng lạnh.
Trở về quê hương khi đất nước sạch bóng quân thù, mặc dù phải mang trên mình những vết thương 'cứ trở gió lại đau nhức nhối', với tỷ lệ thương tật đến 81% cơ thể, nhưng người thương binh quả cảm Đặng Sỹ Ngọc không chịu nghỉ ngơi, mà vẫn tiếp tục làm việc để cống hiến cho đời, luôn là người có ích cho xã hội.
'Chúng tôi cứ ôm nhau ngồi khóc, một cảm giác dâng trào không gì diễn tả được', cựu Trung tá đặc công Nguyễn Đức Phúc kể lại khoảnh khắc xúc động trước thềm chiến thắng 30/4/1975.
Thắng lợi của Tiểu đoàn 59 tại chiến trường Bắc Khánh là một mảnh ghép trong những trang lịch sử oai hùng của Khánh Hòa giai đoạn thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong căn nhà cổ tại quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh, Trung úy Nguyễn Hữu Ái, chiến sĩ giữ cờ Đồn Công an vũ trang 54 cẩn thận lấy cho chúng tôi xem lá cờ Tổ quốc năm xưa. Bàn tay ông nắm chặt những vết đạn loang lổ, những vệt vải bị mảnh bom xé rách và những giọt máu khô còn chưa phai mờ, đôi mắt ông rưng rưng lệ. Hình ảnh lá cờ Hiền Lương gợi nhớ về một cuộc chiến bảo vệ cờ khốc liệt và gian khổ nơi vĩ tuyến 17 gần 60 năm về trước.
Không khí đón tết thật rộn ràng. Mặc cho trên trời máy bay địch gầm rú, chúng tôi, số còn lại ở hậu cứ thay nhau mổ lợn, giã giò, gói bánh, đi đánh cá… và đọc thư nhà.
Ngày 03/5/1971, mới mờ sáng chiếc tàu già L19 đã bay trinh sát, lượn lờ trên không hơn một tiếng đồng hồ, sau đó gọi 6 chiếc phản lực gồm 2 chiếc A7, 2 chiếc AV8, 2 chiếc A10 và 6 trực thăng loại AH1 và AH56 đến.
Trong thời điểm diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của quê hương Quảng Trị vừa qua, chúng tôi may mắn được người quen giới thiệu về một nữ du kích dũng cảm năm xưa và là một người phụ nữ trung hậu, đảm đang của ngày hôm nay. Bà là Trần Thị Diệp, (68 tuổi), nhà ở Kiệt 33 đường Đặng Dung, TP. Đông Hà - người được biết đến là một nữ xã đội phó trẻ tuổi nhất huyện Triệu Phong trong những năm tháng chiến tranh, giai đoạn từ năm 1972 - 1975.
TTH - Mới đây, Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân xã Phong Hiền và huyện Phong Điền vui mừng, tự hào đón nhận Bằng xếp hạng di tích địa điểm Cồn Bệ (thôn Hiền Lương, xã Phong Hiền) là di tích lịch sử cấp tỉnh.