Dù VN-Index đang duy trì xu hướng tăng tích cực nhờ kỳ vọng nâng hạng FTSE Russell, nhưng việc thiếu vắng nền giá tích lũy vững chắc khiến thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro rung lắc. Giữa vùng kháng cự hiện tại, nhà đầu tư nên hành động ra sao để tối ưu hóa danh mục và quản trị rủi ro sau kỳ nghỉ lễ?
Theo VDSC, số dư phải thu từ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành đã tăng hơn gấp đôi sau 6 quý, lên khoảng 158.000 tỷ đồng vào quý II/2026. Nghiệp vụ này không đi qua bộ lọc giám sát về room tín dụng, phân loại nhóm nợ, trích lập dự phòng, song quy mô tăng nhanh, đặt ra yêu cầu theo dõi rủi ro chất lượng tài sản tiềm ẩn.
7 cổ phiếu chứng khoán tên tuổi chính thức góp mặt trong rổ FTSE Global All Cap đang mở ra kỳ vọng lớn về dòng vốn ngoại thụ động.
Tính đến cuối quý II/2026, nợ nhóm 5 các ngân hàng niêm yết đạt 174.685,2 tỷ đồng, tăng 3,7%, thấp hơn đáng kể mức tăng 17,5% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, nợ có khả năng mất vốn vẫn chiếm áp đảo 56% tổng nợ xấu, trong khi nợ nhóm 2 và nợ ngoại bảng gia tăng, cho thấy áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu.
Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
Luật mới mở thêm dư địa cho hoạt động thăm dò, phát triển mỏ và các lĩnh vực dầu khí mới như CCS, năng lượng ngoài khơi. Những thay đổi này được kỳ vọng tạo thêm việc làm cho chuỗi dịch vụ dầu khí, nhưng mức độ tác động giữa các doanh nghiệp sẽ có sự phân hóa.
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) nhận định rằng tín dụng bứt tốc trong quý II, tăng 11% so với đầu năm là động lực quan trọng thúc đẩy lợi nhuận quý II của OCB vượt 1.200 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ. Trong khi đó, rủi ro chất lượng tài sản đang gia tăng gây áp lực lên NIM và chi phí trích lập dự phòng.
Góc nhìn đầu tư phiên 24/8: Chứng khoán Bảo Việt khuyến nghị trung lập VNM, trong khi Rồng Việt kỳ vọng mức sinh lời 63% đối với cổ phiếu LHG.
Bức tranh kinh tế Việt Nam 7 tháng năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực khi sản xuất công nghiệp tăng 11,4%, vốn FDI đăng ký tăng 58% và lạm phát tháng 7 giảm 0,12% so với tháng trước.
Dù kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm tăng trưởng ấn tượng, nền kinh tế vẫn ghi nhận mức thâm hụt thương mại lên tới 20,3 tỷ USD. Phân tích chuyên sâu cho thấy nguyên nhân cốt lõi không đến từ sự suy yếu của năng lực sản xuất mà xuất phát từ chiến lược gom hàng dự trữ của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Làn sóng nhập khẩu linh kiện điện tử quy mô lớn đang định hình lại toàn bộ bức tranh cán cân thương mại trong ngắn hạn.
BCTC quý II/2026 cho thấy nhiều ngân hàng trong hệ thống tiếp ghi nhận lợi nhuận tăng tích cực. Tuy vậy, tỷ lệ nợ xấu bình quân tại 27 ngân hàng niêm yết tiếp tục tăng lên mức 2,01%, cao nhất kể từ quý II/2020.
Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
Tiền gửi KBNN tại 4 ngân hàng quốc doanh đạt hơn 715.000 tỷ đồng cuối quý II, tăng 45% so với cuối năm 2025, tạo thêm dư địa hỗ trợ thanh khoản.
Báo cáo phân tích của Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) ghi nhận thanh khoản hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng nhờ các điều chỉnh chính sách linh hoạt trong tháng 6 và tháng 7/2026. Dù vậy, những vấn đề mang tính cấu trúc trên bảng cân đối kế toán, đặc biệt là sự chênh lệch kỳ hạn nguồn vốn, đang tạo rào cản khiến mặt bằng lãi suất khó bước vào chu kỳ giảm bền vững.
Sau khi giảm mạnh trong phiên cuối tuần qua, VN-Index có thể tiếp tục kiểm định vùng 1.680-1.700 điểm trong tuần này. Chuyên gia khuyến nghị nhà đầu tư ưu tiên quản trị rủi ro, chưa vội bắt đáy khi áp lực bán vẫn hiện hữu.
Dù các ngân hàng liên tục công bố những gói tín dụng ưu đãi với mức giảm từ 0,5 - 2%/năm, nhưng mặt bằng lãi suất trên thị trường vẫn chưa thực sự bước vào một xu hướng hạ nhiệt bền vững. Câu hỏi đặt ra là vì sao thanh khoản hệ thống đã bớt căng thẳng mà dòng tiền rẻ vẫn chưa thực sự lan tỏa mạnh mẽ vào nền kinh tế.
Chứng khoán, ngân hàng, xây dựng - vật liệu, cao su và bất động sản khu công nghiệp được đánh giá có triển vọng, nhưng nhà đầu tư cần chọn lọc thay vì mua theo nhóm ngành.
Giữa những đợt rung lắc của thị trường, nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì mức trả cổ tức bằng tiền mặt cao, thậm chí gấp nhiều lần lãi suất tiền gửi. Tuy nhiên, cổ tức cao không đồng nghĩa lợi nhuận đầu tư cao, bởi nhà đầu tư vẫn đối mặt với rủi ro giá cổ phiếu giảm và khả năng doanh nghiệp không duy trì được mức chi trả này.
Tại cuối quý II/2026, tỷ lệ cho vay trên huy động bao gồm giấy tờ có giá bình quân tại 27 ngân hàng niêm yết trong hệ thống đã tăng lên mức 99,5% (+3 điểm % so với đầu năm) trong bối cảnh khoảng cách giữa tín dụng và huy động tiếp tục nới rộng.
Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
Theo dữ liệu cập nhật mới nhất từ Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), xét tổng thể về mức độ hoàn thành kế hoạch kinh doanh năm 2026 thống kê trên 379 doanh nghiệp có số liệu, hiện số doanh nghiệp đang chậm tiến độ hoàn thành (thấp hơn 45% kế hoạch năm) chiếm tỷ trọng cao ở mức 65,4%.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, BCTC của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy hơn 105.000 tỷ đồng nợ xấu hình thành ròng trong bối cảnh mặt bằng lãi suất cho vay thiết lập mức nền cao mới, tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng vay, đặc biệt ở phân khúc bán lẻ.
VN-Index hiện giao dịch ở mức P/E 11,9 lần, thấp hơn khoảng 15,6% so với mức bình quân 5 năm là 14,1 lần. Nếu loại trừ nhóm cổ phiếu VIC, P/E của thị trường chỉ còn khoảng 10,0 lần, không chênh lệch đáng kể so với vùng đáy lịch sử 9,5 lần.
Nợ xấu tại các ngân hàng đang ngày càng phình to, trong khi tốc độ gia tăng đã vượt xa tăng trưởng tín dụng, khiến áp lực xử lý tài sản và trích lập dự phòng trở thành bài toán đáng lo ngại trong nửa cuối năm…
Tại cuối quý II/2026, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) ước tính tỷ lệ LDR của phần lớn ngân hàng tiếp tục duy trì hoặc tăng nhẹ; trong đó một số ngân hàng có LDR neo sát ngưỡng tối đa 85% khi khoảng cách tín dụng - huy động tiếp tục nới rộng.
Tín dụng tăng tích cực (+9,1% tại 27 ngân hàng niêm yết) và diễn biến NIM phục hồi lên 3,06% từ mức đáy nhiều năm trong quý I đã góp phần thúc đẩy kết quả kinh doanh toàn ngành tăng trưởng hai chữ số.
Chuyên gia chứng khoán khuyến nghị người không có nhiều thời gian theo dõi thị trường nên hạn chế giao dịch ngắn hạn, tránh sử dụng margin và ưu tiên cổ phiếu có nền tảng cơ bản.
Hệ thống ngân hàng đang bước vào giai đoạn đầy thách thức khi quy mô nợ xấu gia tăng. Trong khi những "khối u" nợ xấu liên tục phình to thì lớp lá chắn dự phòng rủi ro của nhiều nhà băng lại có dấu hiệu mỏng dần, đặt ra những lo ngại về chất lượng tài sản trong giai đoạn nửa cuối năm 2026.
Tại cuối quý II/2026, MSB đã sử dụng hết hạn mức tín dụng lần đầu (10,45%). VDSC cho biết động lực tăng trưởng tín dụng chính trong nửa cuối năm dự kiến đến từ kỳ vọng được nới room tín dụng, cùng với khả năng cho vay các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia của các chủ đầu tư Vingroup và Sun Group.
Trên cơ sở EPS dự phóng bình quân có trọng số 146 đồng và vùng P/E mục tiêu 11,7-13,7 lần, VDSC giữ nguyên dự báo VN-Index dao động trong vùng 1.638-1.999 điểm trong 6-8 tháng tới.
Sau nhịp điều chỉnh của thị trường, các CTCK vẫn nhìn thấy cơ hội trong tháng 8 khi mặt bằng định giá đã hạ xuống. Bên cạnh những nhóm giảm mạnh có khả năng hồi phục, một số ngành gắn với đầu tư hạ tầng và mở rộng sản xuất cũng được ưu tiên.
Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Khi thu nhập ghi nhận tăng nhưng dòng tiền chưa thực sự thu về, vấn đề không chỉ là ngân hàng kiếm được bao nhiêu mà còn là chất lượng của khoản lợi nhuận đó.
Các công ty chứng khoán khuyến nghị mua cổ phiếu DMX và POW nhờ triển vọng tăng trưởng tích cực, trong khi VCB được khuyến nghị chờ mua.
Đa phần các ngân hàng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận khả quan trong nửa đầu năm, song vẫn có nhiều ngân hàng đi lùi do tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
Lợi nhuận sau thuế toàn thị trường tăng 41,2% so với cùng kỳ năm trước, đánh dấu mức tăng trưởng cao trong quý thứ năm liên tiếp. Động lực chính tiếp tục đến từ khối phi tài chính (+57,6%), trong khi khối tài chính tăng 24,4% so với cùng kỳ.
Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, đạt hơn 312.100 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, cùng với hơn 1 triệu tỷ đồng nợ 'treo' ngoại bảng. Hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng, nhưng 'bộ đệm' rủi ro vẫn chịu sức ép trước tốc độ gia tăng của nợ xấu.
Lợi nhuận trước thuế của 29 ngân hàng đạt 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, Vietcombank tiếp tục giữ 'ngôi vương' lợi nhuận, VPBank lần đầu lọt Top 5 nhờ lãi tăng cao nhất nhóm ngân hàng lớn. Ngược lại, 6/29 nhà băng hụt hơi lợi nhuận. Bảng xếp hạng lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2026 có nhiều xáo trộn.
Nửa đầu năm 2026, Hà Đô ghi nhận doanh thu thuần 1.170 tỷ đồng, trong đó có khoảng 49 tỷ đến từ bất động sản, còn lại chủ yếu đến từ mảng năng lượng. Lãi sau thuế đạt 208 tỷ đồng, giảm 11%.
Tỷ giá trung tâm lập mức cao nhất kể từ khi áp dụng cơ chế mới, trong khi nguồn cung ngoại tệ vẫn hỗ trợ thị trường. Áp lực tỷ giá cuối năm sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Cổ phiếu POW, BID và CTD nhận được đánh giá tích cực từ các công ty chứng khoán nhờ triển vọng tăng trưởng và động lực kinh doanh riêng biệt.
Nhà đầu tư nước ngoài đang thực hiện đợt tái cơ cấu danh mục quy mô lớn tại nhóm cổ phiếu ngân hàng. Dù tạo áp lực tâm lý trong ngắn hạn, động thái này lại mở ra những góc nhìn mới về định giá và cơ hội đầu tư.
Dù định giá nhiều cổ phiếu đã về vùng hấp dẫn sau đợt điều chỉnh mạnh, các chuyên gia vẫn khuyến nghị nhà đầu tư giữ tâm lý thận trọng, hạn chế sử dụng đòn bẩy và ưu tiên quản trị rủi ro.