Ngành Ngân hàng tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, tiết giảm chi phí, phấn đấu giảm lãi suất cho vay và đơn giản hóa thủ tục tín dụng trong khuôn khổ pháp luật. Cùng với đó, việc tháo gỡ các vướng mắc về pháp lý dự án, nâng cao năng lực tài chính và minh bạch dòng tiền của doanh nghiệp sẽ góp phần khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tạo động lực tăng trưởng cho Đà Nẵng.
Đà Nẵng cần thêm khoảng 35.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong quý IV, trong đó khoảng 15.000 tỷ đồng từ hệ thống tín dụng, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên trong năm 2026.
Trong bối cảnh Đà Nẵng đặt mục tiêu tăng trưởng từ 11% trở lên năm 2026, nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh và đầu tư đang tăng mạnh. Tại hội nghị “Khơi thông dòng vốn - đồng hành cùng Đà Nẵng tăng trưởng”, cộng đồng doanh nghiệp đã trực tiếp nêu những vướng mắc khi tiếp cận vốn, trong khi ngành Ngân hàng cam kết tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực có khả năng tạo động lực cho tăng trưởng.
Dòng vốn tín dụng đang được mở rộng với nhiều chính sách ưu đãi, song Lâm Đồng cần đồng thời nâng năng lực hấp thụ vốn, minh bạch dữ liệu và kết nối thị trường để doanh nghiệp tăng tốc.
Chuyển dịch năng lượng đang mở ra nhu cầu vốn khổng lồ, nhưng bài toán của Việt Nam không đơn thuần là tìm thêm tiền. Điều quan trọng hơn là hình thành được những dự án đủ độ "chín", có cấu trúc tài chính phù hợp và cơ chế phân bổ rủi ro đủ sức thuyết phục các dòng vốn tư nhân, quốc tế tham gia.
Nhu cầu vốn cho hạ tầng ngày càng lớn trong khi thị trường không thiếu nguồn lực. Điểm nghẽn nằm ở chỗ nhiều dự án chưa tạo được dòng tiền đủ rõ, cơ chế phân bổ rủi ro chưa hợp lý và công cụ huy động vốn còn lệch pha với vòng đời tài sản. Muốn kéo được dòng vốn 15–20 năm vào những dự án hàng tỷ USD, bài toán không chỉ là “tìm tiền” mà còn phải thiết kế những dự án đủ khả năng được thị trường định giá và chấp nhận rủi ro.
Hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn đang được triển khai, kéo theo nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng cao. Trong đó, tín dụng ngân hàng được kỳ vọng là một dòng vốn quan trọng. Tuy nhiên, để vốn ngân hàng đi đúng địa chỉ và phát huy hiệu quả, cần tháo gỡ điểm nghẽn về kỳ hạn, phương án tài chính, pháp lý và cơ chế chia sẻ rủi ro.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030, thành phố Hà Nội đang đứng trước bài toán huy động và phân bổ nguồn lực tài chính kỷ luật, hiệu quả.
Với nhu cầu vốn cho phát triển lên tới hàng triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030, Hà Nội đang đẩy mạnh kết nối ngân hàng, doanh nghiệp và các dự án, hướng tới đưa dòng tiền nhanh chóng đi vào nền kinh tế và tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.
8 tháng năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, trong khi dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đều cao hơn mức tăng chung của toàn hệ thống. Với quy mô huy động và cho vay dẫn đầu cả nước, ngành ngân hàng đang tiếp tục đồng hành cùng Hà Nội trong cung ứng vốn cho sản xuất, kinh doanh, các dự án lớn và những động lực tăng trưởng mới.
Áp lực trái phiếu đáo hạn gia tăng về cuối năm, trong khi dòng vốn mới vào bất động sản ngày càng phân hóa và tập trung ở một số doanh nghiệp.
Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, câu hỏi “Tiền ở đâu, vốn ở đâu?” vẫn là nút thắt của đầu tư và mở rộng sản xuất. Nhưng để tín dụng chảy mạnh hơn, lời giải không thể chỉ là nới điều kiện vay. Cần giúp ngân hàng nhận diện năng lực trả nợ qua dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị và tài sản khác, đồng thời có công cụ chia sẻ rủi ro để bảo đảm an toàn hệ thống.
Với mức tăng trưởng tín dụng đạt 8,98% trong 7 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế đang cho thấy khả năng hấp thụ vốn có những chuyển biến tích cực.
Tín dụng bất động sản không nên được nhìn nhận đơn giản theo hướng “siết” hay “mở”. Điều quan trọng hơn là dòng vốn được phân bổ vào đâu, phục vụ mục đích gì và đi kèm mức độ rủi ro ra sao. Theo VARS IRE, vốn cần được ưu tiên cho những dự án đủ pháp lý, có khả năng hoàn thành, tạo thêm nguồn cung nhà ở và đáp ứng nhu cầu thực; trong khi dòng tiền phục vụ đầu cơ hoặc những dự án không còn khả năng phục hồi cần được kiểm soát.
Bất động sản có nhu cầu vốn lớn, chu kỳ đầu tư dài và liên thông chặt chẽ với nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Vì vậy, quản trị rủi ro tài chính không thể chỉ dựa vào việc kiểm soát tín dụng mà cần minh bạch dòng tiền, giám sát theo từng dự án và có giải pháp hỗ trợ những dự án đủ khả năng hoàn thành.
Khoảng cách lớn giữa nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận tín dụng đang trở thành một trong những điểm nghẽn lớn nhất của tăng trưởng kinh tế.
Dư nợ tín dụng đối với hoạt động kinh doanh bất động sản đã vượt 2,5 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 6/2026, tăng gần 13% chỉ sau một quý. Tuy nhiên, chi phí vốn cao và điều kiện tín dụng chặt chẽ đang khiến khả năng tiếp cận vốn giữa các doanh nghiệp, dự án và người mua nhà phân hóa rõ nét.
Việc nhiều ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất cho vay, tung ra các gói tín dụng ưu đãi quy mô lớn hàng trăm nghìn tỷ đồng cho doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa được kỳ vọng tạo thêm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi, điều quan trọng không chỉ là quy mô hay giá vốn, mà là khả năng đưa dòng vốn đến đúng doanh nghiệp, đúng thời điểm và những lĩnh vực có khả năng tạo ra năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.
Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 15 cho rằng tăng trưởng tín dụng trên địa bàn trong nửa đầu năm nay thấp hơn bình quân cả nước. Do đó, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục khơi thông dòng vốn cho kinh tế địa phương nhưng không hạ chuẩn tín dụng để chạy theo tăng trưởng.
Thay vì áp dụng một cơ chế chung, tín dụng bất động sản cần được phân loại theo mức độ rủi ro, ưu tiên dòng vốn cho những dự án có khả năng hoàn thành, phục hồi, qua đó nâng hiệu quả sử dụng vốn và hạn chế rủi ro cho hệ thống tài chính.
Trong không gian phát triển mới, tỉnh An Giang đang đẩy mạnh thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Giữ vai trò quan trọng trong cung ứng vốn cho nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực 15 đang điều hành tín dụng theo hướng an toàn, hiệu quả, ưu tiên sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực có lợi thế của địa phương.
Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045 hướng tới cân bằng hệ thống tài chính, giảm phụ thuộc tín dụng và nâng hiệu quả phân bổ vốn.
Tín dụng bất động sản tăng nhanh hơn tín dụng chung khiến yêu cầu kiểm soát dòng vốn tiếp tục được đặt ra nhưng VARS IRE cho rằng việc áp dụng một cơ chế kiểm soát đồng nhất cho toàn thị trường có thể làm hạn chế dòng vốn vào những dự án có pháp lý đầy đủ, khả năng triển khai và nhu cầu thực.
6 tháng đầu năm 2026, dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh An Giang đạt trên 282.000 tỷ đồng, tăng 4,53% so cuối năm 2025; khoảng 82% dòng vốn được đưa vào sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn hạn chế, đòi hỏi chính quyền, ngân hàng và doanh nghiệp cùng tháo gỡ những điểm nghẽn để dòng vốn đi vào thực chất.
Tạo thêm dư địa tín dụng cho các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính lan tỏa là một trong những giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tuy nhiên, theo chuyên gia, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô tín dụng được mở rộng, mà quan trọng hơn là tiến độ giải ngân, khả năng cân đối nguồn vốn và kiểm soát dòng tiền sau giải ngân, bảo đảm vốn được sử dụng đúng dự án, đúng mục đích...
Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
Quy mô tín dụng lớn chưa đồng nghĩa dòng tiền đã thực sự đến với doanh nghiệp. Khi chi phí vốn còn cao, khả năng tiếp cận tín dụng còn hạn chế và thời điểm giải ngân có thể quyết định hiệu quả kinh doanh, câu hỏi quan trọng không chỉ là có bao nhiêu vốn, mà là bao nhiêu vốn được giải ngân từ các kênh khác ngoài ngân hàng đúng lúc và đến đúng nơi cần vốn.
Khả năng tiếp cận dòng vốn đang quyết định tốc độ đầu tư tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp, tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi năng lượng.
Tăng trưởng cao kéo theo nhu cầu đầu tư lớn cho hạ tầng, năng lượng, công nghiệp chiến lược, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, cấu trúc cung ứng vốn hiện vẫn dựa nhiều vào ngân hàng, trong khi nguồn huy động chủ yếu là ngắn hạn.