Hoạt động gia tăng mua lại trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) trong nửa đầu năm 2026, trong bối cảnh giá trị phát hành giảm, đã khiến cho quy mô thị trường TPDN thu hẹp đáng kể.
Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank mã chứng khoán: VAB) vừa được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận tăng vốn điều lệ đợt 1 năm 2026 lên mức gần 9.021 tỷ đồng, thông qua hình thức phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu.
Dù quy mô phát hành thu hẹp, song lãi suất trái phiếu doanh nghiệp lại có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt ở nhóm ngân hàng, với nhiều ngân hàng đẩy lãi suất phát hành lên mức 9 – 9,7%/năm.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy của 27 ngân hàng cho thấy, ở nhóm kỳ hạn từ 12-24 tháng, nhiều ngân hàng niêm yết lãi suất trên 6%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn phổ biến dao động từ khoảng 2,1-4,75%/năm.
Thu nhập lãi và hoạt động dịch vụ tiếp tục tăng trưởng trong quý II/2026, song VietABank vẫn ghi nhận lợi nhuận đi lùi do đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Đáng chú ý, nợ nhóm 4 của ngân hàng tăng gấp 86 lần so với đầu năm, phản ánh sự dịch chuyển trong cơ cấu chất lượng tài sản.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng cao khiến lợi nhuận trước thuế của ACB và VietABank giảm hai con số trong quý II, trong khi Saigonbank thua lỗ.
Đến ngày 22/7, 10 ngân hàng đã công bố hoặc hé lộ kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026. Trong khi VPBank, Techcombank và một số ngân hàng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận tích cực, không ít nhà băng chịu áp lực từ chi phí vốn và chi phí dự phòng rủi ro gia tăng.
Chi phí dự phòng tăng hơn 20 lần so với cùng kỳ góp phần đưa lợi nhuận quý II của VietABank giảm 12% dù tổng thu nhập hoạt động tăng. Mặt khác, tỷ lệ nợ xấu tiếp tục cải thiện về 1,21%, trong nhóm thấp nhất toàn ngành.
Quý 1/2026, VietABank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt hơn 508 tỷ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm gần 4.500 tỷ đồng, trong khi dư nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) tăng lên hơn 505 tỷ đồng.
Khảo sát biểu lãi suất huy động của 28 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn. Ở nhóm kỳ hạn từ 6-24 tháng, nhiều nhà băng niêm yết lãi suất từ 6%/năm trở lên, trong khi kỳ hạn ngắn dưới 3 tháng phổ biến dao động từ khoảng 2,1-4,75%/năm.
Khảo sát biểu lãi suất huy động của 28 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục có sự phân hóa rõ giữa các kỳ hạn. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức thấp ở các kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết lãi suất từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi từ 6 đến 24 tháng.
Hàng loạt nhà băng đưa lãi suất cho vay bình quân vượt ngưỡng hai con số, tạo nên áp lực không nhỏ cho cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng cao dịp nửa cuối năm.
Thị trường hiện có gần 10 nhà băng công bố lãi suất cho vay bình quân vượt ngưỡng 10%/năm.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 28 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục có sự phân hóa theo từng kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng. Mức lãi suất cao nhất ghi nhận đạt 7,5%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, trong khi nhiều ngân hàng duy trì lãi suất từ 6-7%/năm đối với các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
Nhiều ngân hàng tiếp tục niêm yết mức 4,75%/năm cho kỳ hạn 3-5 tháng - mức trần lãi suất áp dụng đối với tiền gửi dưới 6 tháng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 29 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn gửi. Trong khi nhiều nhà băng duy trì mức dưới 5%/năm ở kỳ hạn ngắn, không ít ngân hàng niêm yết lãi suất từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi từ 6 tháng trở lên.
VietABank ghi nhận lợi nhuận tăng mạnh năm 2025, chính thức niêm yết cổ phiếu VAB trên HOSE và đặt mục tiêu tăng vốn mạnh năm 2026. Nhưng sau cột mốc minh bạch mới, bài toán lớn hơn là CASA, NIM và năng suất hoạt động.
Theo báo cáo tài chính quý II/2026, Chứng khoán Quốc gia (NSI) báo lỗ ròng 98 tỷ đồng trong quý II, đảo chiều mức lãi 34 tỷ đồng cùng kỳ năm ngoái.
Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - mã CK: VAB) vừa điều chỉnh phương án phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu. Theo kế hoạch mới, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu với tỷ lệ 10,5%, qua đó nâng vốn điều lệ từ 8.163,6 tỷ đồng lên hơn 9.020,8 tỷ đồng.
VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Trong khi doanh thu bảo hiểm nhân thọ tiếp tục giảm và niềm tin thị trường chưa hồi phục, kênh Bancassurance lại là điểm sáng hiếm hoi ghi nhận tăng trưởng. Xu hướng này đang thúc đẩy nhiều ngân hàng chuyển từ mô hình bán bảo hiểm hưởng hoa hồng sang trực tiếp sở hữu doanh nghiệp bảo hiểm.
Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 1 (Hà Nội) khuyến cáo người dân chỉ mua, bán vàng miếng tại các ngân hàng, doanh nghiệp được cấp phép. Các giao dịch vàng từ 20 triệu đồng trở lên trong ngày phải thực hiện thanh toán qua tài khoản ngân hàng, nhằm tăng tính minh bạch và phòng, chống rửa tiền.
Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục có sự phân hóa giữa các ngân hàng và từng kỳ hạn tiền gửi. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mức lãi suất thấp ở các kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại áp dụng mức từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - mã chứng khoán: VAB) vừa thông báo chào bán đợt 1 với 6 triệu trái phiếu ra công chúng, dự kiến thu về 600 tỷ đồng. Cùng với đó, ngân hàng này đang triển khai phương án phát hành hơn 122 triệu cổ phiếu thưởng để nâng vốn điều lệ lên mức 9.388 tỷ đồng.
Biểu lãi suất tiền gửi mới nhất ghi nhận mức cao nhất lên tới 7,5%/năm, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn khối ngân hàng thương mại cổ phần ở hầu hết các kỳ hạn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 26 ngân hàng thương mại cho thấy mặt bằng lãi suất huy động tại quầy tiếp tục có sự phân hóa rõ giữa các kỳ hạn. Ở nhóm kỳ hạn từ 12-24 tháng, nhiều ngân hàng niêm yết mức từ 6%/năm trở lên, trong khi kỳ hạn không kỳ hạn phổ biến chỉ dao động từ 0,05-0,50%/năm.
Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
Trong khi lãi suất huy động tại quầy ở nhóm kỳ hạn ngắn phổ biến dao động từ khoảng 2% đến hơn 4%/năm, nhiều ngân hàng vẫn duy trì mức từ 6%/năm trở lên ở các kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng nhằm thu hút dòng tiền gửi dài hạn.
Tín dụng tăng nhanh hơn huy động khiến thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu nhiều áp lực. Nhiều ngân hàng, đặc biệt nhóm Big4, phải tăng phát hành trái phiếu để bổ sung nguồn vốn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy niêm yết tại 26 ngân hàng cho thấy ở các kỳ hạn dài, nhiều ngân hàng niêm yết mức trên 6%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn phổ biến dao động từ khoảng 2% đến gần 5%/năm.
Biểu lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn, dao động từ 0,05% đến 7%/năm. Trong khi các kỳ hạn ngắn duy trì ở mức thấp, nhiều ngân hàng áp dụng lãi suất trên 6%/năm đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên.
Chỉ trong 5 tháng đầu năm, giá trị trái phiếu ngân hàng chào bán đã vượt 61.000 tỷ đồng, với nhiều đợt phát hành có lãi suất từ 8-9%/năm.
Hơn 61.000 tỷ đồng trái phiếu được các ngân hàng phát hành trong 5 tháng đầu năm 2026, trong đó riêng tháng 5 chiếm hơn một nửa. Sự sôi động của kênh huy động này cho thấy nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung, dài hạn đang gia tăng trong hệ thống ngân hàng.
Làn sóng phát hành trái phiếu ngân hàng đang tăng tốc mạnh mẽ với mặt bằng lãi suất mới trên 8,3%/năm, cao hơn 3% so với cùng kỳ năm trước.
Với mức lãi suất phổ biến trên 8,3%/năm – tăng tới 3 điểm phần trăm so với cùng kỳ, nhóm ngân hàng đang tăng tốc huy động hàng chục nghìn tỷ đồng qua kênh trái phiếu để giải quyết áp lực thiếu hụt vốn và đáp ứng nhu cầu tín dụng đang hồi phục mạnh mẽ.
Đối với kỳ hạn ngắn 3 tháng, rất nhiều ngân hàng triển khai mức cao nhất lên tới 4,75%/năm, mức trần theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Khảo sát biểu lãi suất ngân hàng hôm nay cho thấy mặt bằng lãi suất tiền gửi hiện có sự phân hóa khá rõ giữa các nhóm ngân hàng và từng kỳ hạn gửi.
Khảo sát biểu lãi suất tiền gửi tiết kiệm tại 25 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa mạnh giữa các tổ chức tín dụng và các kỳ hạn gửi. Trong khi nhiều ngân hàng lớn duy trì mức lãi dưới 6%/năm, một số đơn vị áp dụng lãi suất từ 6,5-7%/năm đối với các khoản tiền gửi kỳ hạn dài.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy tại 26 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa mạnh giữa các tổ chức tín dụng. Ở nhóm kỳ hạn dài từ 12-24 tháng, nhiều ngân hàng niêm yết mức từ 6%/năm trở lên, trong khi lãi suất không kỳ hạn phổ biến chỉ dao động từ 0,05-0,50%/năm.