Thị trường hiện có gần 10 nhà băng công bố lãi suất cho vay bình quân vượt ngưỡng 10%/năm.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 28 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục có sự phân hóa theo từng kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng. Mức lãi suất cao nhất ghi nhận đạt 7,5%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, trong khi nhiều ngân hàng duy trì lãi suất từ 6-7%/năm đối với các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
Nhiều ngân hàng tiếp tục niêm yết mức 4,75%/năm cho kỳ hạn 3-5 tháng - mức trần lãi suất áp dụng đối với tiền gửi dưới 6 tháng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 29 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn gửi. Trong khi nhiều nhà băng duy trì mức dưới 5%/năm ở kỳ hạn ngắn, không ít ngân hàng niêm yết lãi suất từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi từ 6 tháng trở lên.
VietABank ghi nhận lợi nhuận tăng mạnh năm 2025, chính thức niêm yết cổ phiếu VAB trên HOSE và đặt mục tiêu tăng vốn mạnh năm 2026. Nhưng sau cột mốc minh bạch mới, bài toán lớn hơn là CASA, NIM và năng suất hoạt động.
Theo báo cáo tài chính quý II/2026, Chứng khoán Quốc gia (NSI) báo lỗ ròng 98 tỷ đồng trong quý II, đảo chiều mức lãi 34 tỷ đồng cùng kỳ năm ngoái.
Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - mã CK: VAB) vừa điều chỉnh phương án phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu. Theo kế hoạch mới, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu với tỷ lệ 10,5%, qua đó nâng vốn điều lệ từ 8.163,6 tỷ đồng lên hơn 9.020,8 tỷ đồng.
VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Trong khi doanh thu bảo hiểm nhân thọ tiếp tục giảm và niềm tin thị trường chưa hồi phục, kênh Bancassurance lại là điểm sáng hiếm hoi ghi nhận tăng trưởng. Xu hướng này đang thúc đẩy nhiều ngân hàng chuyển từ mô hình bán bảo hiểm hưởng hoa hồng sang trực tiếp sở hữu doanh nghiệp bảo hiểm.
Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 1 (Hà Nội) khuyến cáo người dân chỉ mua, bán vàng miếng tại các ngân hàng, doanh nghiệp được cấp phép. Các giao dịch vàng từ 20 triệu đồng trở lên trong ngày phải thực hiện thanh toán qua tài khoản ngân hàng, nhằm tăng tính minh bạch và phòng, chống rửa tiền.
Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục có sự phân hóa giữa các ngân hàng và từng kỳ hạn tiền gửi. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mức lãi suất thấp ở các kỳ hạn ngắn, nhiều ngân hàng thương mại áp dụng mức từ 6-7,5%/năm đối với các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - mã chứng khoán: VAB) vừa thông báo chào bán đợt 1 với 6 triệu trái phiếu ra công chúng, dự kiến thu về 600 tỷ đồng. Cùng với đó, ngân hàng này đang triển khai phương án phát hành hơn 122 triệu cổ phiếu thưởng để nâng vốn điều lệ lên mức 9.388 tỷ đồng.
Biểu lãi suất tiền gửi mới nhất ghi nhận mức cao nhất lên tới 7,5%/năm, trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh vẫn duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn khối ngân hàng thương mại cổ phần ở hầu hết các kỳ hạn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 26 ngân hàng thương mại cho thấy mặt bằng lãi suất huy động tại quầy tiếp tục có sự phân hóa rõ giữa các kỳ hạn. Ở nhóm kỳ hạn từ 12-24 tháng, nhiều ngân hàng niêm yết mức từ 6%/năm trở lên, trong khi kỳ hạn không kỳ hạn phổ biến chỉ dao động từ 0,05-0,50%/năm.
Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
Trong khi lãi suất huy động tại quầy ở nhóm kỳ hạn ngắn phổ biến dao động từ khoảng 2% đến hơn 4%/năm, nhiều ngân hàng vẫn duy trì mức từ 6%/năm trở lên ở các kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng nhằm thu hút dòng tiền gửi dài hạn.
Tín dụng tăng nhanh hơn huy động khiến thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu nhiều áp lực. Nhiều ngân hàng, đặc biệt nhóm Big4, phải tăng phát hành trái phiếu để bổ sung nguồn vốn.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy niêm yết tại 26 ngân hàng cho thấy ở các kỳ hạn dài, nhiều ngân hàng niêm yết mức trên 6%/năm, trong khi kỳ hạn ngắn phổ biến dao động từ khoảng 2% đến gần 5%/năm.
Biểu lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn, dao động từ 0,05% đến 7%/năm. Trong khi các kỳ hạn ngắn duy trì ở mức thấp, nhiều ngân hàng áp dụng lãi suất trên 6%/năm đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên.
Chỉ trong 5 tháng đầu năm, giá trị trái phiếu ngân hàng chào bán đã vượt 61.000 tỷ đồng, với nhiều đợt phát hành có lãi suất từ 8-9%/năm.
Hơn 61.000 tỷ đồng trái phiếu được các ngân hàng phát hành trong 5 tháng đầu năm 2026, trong đó riêng tháng 5 chiếm hơn một nửa. Sự sôi động của kênh huy động này cho thấy nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung, dài hạn đang gia tăng trong hệ thống ngân hàng.
Làn sóng phát hành trái phiếu ngân hàng đang tăng tốc mạnh mẽ với mặt bằng lãi suất mới trên 8,3%/năm, cao hơn 3% so với cùng kỳ năm trước.
Với mức lãi suất phổ biến trên 8,3%/năm – tăng tới 3 điểm phần trăm so với cùng kỳ, nhóm ngân hàng đang tăng tốc huy động hàng chục nghìn tỷ đồng qua kênh trái phiếu để giải quyết áp lực thiếu hụt vốn và đáp ứng nhu cầu tín dụng đang hồi phục mạnh mẽ.
Đối với kỳ hạn ngắn 3 tháng, rất nhiều ngân hàng triển khai mức cao nhất lên tới 4,75%/năm, mức trần theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Khảo sát biểu lãi suất ngân hàng hôm nay cho thấy mặt bằng lãi suất tiền gửi hiện có sự phân hóa khá rõ giữa các nhóm ngân hàng và từng kỳ hạn gửi.
Khảo sát biểu lãi suất tiền gửi tiết kiệm tại 25 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa mạnh giữa các tổ chức tín dụng và các kỳ hạn gửi. Trong khi nhiều ngân hàng lớn duy trì mức lãi dưới 6%/năm, một số đơn vị áp dụng lãi suất từ 6,5-7%/năm đối với các khoản tiền gửi kỳ hạn dài.
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại quầy tại 26 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa mạnh giữa các tổ chức tín dụng. Ở nhóm kỳ hạn dài từ 12-24 tháng, nhiều ngân hàng niêm yết mức từ 6%/năm trở lên, trong khi lãi suất không kỳ hạn phổ biến chỉ dao động từ 0,05-0,50%/năm.
Hệ thống ngân hàng còn lại 5 nhà băng đang giao dịch cổ phiếu trên thị trường Upcom, gồm: Saigonbank, VietBank, PGBank, BVBank và ABBank. Riêng VietABank và Kienlongbank đã 'chuyển nhà' thành công sang HoSE.
Mặt bằng lãi suất tiết kiệm tiếp tục phân hóa rõ nét giữa các nhóm ngân hàng. Bên cạnh những nhà băng chỉ áp dụng mức 2-4%/năm ở kỳ hạn ngắn, nhiều đơn vị đang đẩy lãi suất kỳ hạn dài lên sát hoặc vượt ngưỡng 7%/năm.
Theo biểu lãi suất huy động tại quầy được cập nhật từ 28 ngân hàng, mức lãi suất tiền gửi đang dao động khá rộng giữa các kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng.
Khảo sát biểu lãi suất huy động của 29 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiền gửi hiện dao động từ 0,05% đến 7,5%/năm tùy kỳ hạn và sản phẩm. Nhóm kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng tiếp tục ghi nhận mức lãi suất cao nhất trên thị trường.
Lợi nhuận tăng mạnh, tín dụng mở rộng, huy động vốn tăng trưởng tích cực và danh mục đầu tư chứng khoán tăng là những điểm sáng trong báo cáo tài chính quý I/2026 của VietABank. Tuy nhiên, đằng sau những con số tích cực ấy là một câu chuyện đáng chú ý hơn: nhu cầu tăng vốn quy mô lớn để chuẩn bị cho giai đoạn tăng trưởng mới và củng cố năng lực tài chính trước áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng trong ngành ngân hàng.
Lợi nhuận ngân hàng quý I/2026 tiếp tục tăng mạnh. Vietcombank giữ vị trí số một, trong khi VietinBank, VPBank và ABBank gây chú ý nhờ tốc độ tăng trưởng vượt trội. Điều gì đang diễn ra phía sau bức tranh lợi nhuận của ngành ngân hàng?
Khảo sát biểu lãi suất huy động tại 27 ngân hàng cho thấy mặt bằng lãi suất tiếp tục phân hóa theo từng kỳ hạn. Nhóm kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng ghi nhận nhiều mức lãi suất từ 6%/năm trở lên, trong khi kỳ hạn ngắn dưới 3 tháng phổ biến dao động từ khoảng 2% đến dưới 5%/năm.
Việc thay đổi cách tính tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản không phải là động thái nới lỏng tín dụng đại trà cho toàn bộ thị trường, mà là sự hỗ trợ có chủ đích đối với các phân khúc phục vụ trực tiếp cho đời sống người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội. Dòng vốn đổ vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro sẽ vẫn được kiểm soát.
Theo biểu lãi suất huy động tại quầy được công bố tại 27 ngân hàng thương mại, mặt bằng lãi suất tiền gửi hiện dao động từ 2,1% đến 7%/năm tùy kỳ hạn và từng tổ chức tín dụng.
Theo bảng lãi suất, phần lớn các ngân hàng hiện tập trung nâng lãi suất ở nhóm kỳ hạn từ 12 tháng trở lên nhằm thu hút nguồn vốn dài hạn; trong khi đó, lãi suất không kỳ hạn vẫn ở mức rất thấp, phổ biến từ 0,05% đến 0,5%/năm.
Lãi suất huy động tại quầy giữa các ngân hàng tiếp tục duy trì khoảng cách khá lớn, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài hạn. Trong đó, MBV đang là ngân hàng niêm yết mức lãi suất cao nhất thị trường ở kỳ hạn 12 tháng: 7%/năm.
Trong khảo sát, trong khi nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giữ mức lãi tương đối ổn định, nhiều ngân hàng cổ phần đang áp dụng mức lãi từ 6% - 7,5%/năm ở các kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.
Mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục ghi nhận sự chênh lệch đáng kể giữa các ngân hàng. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức lãi dưới 6%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đang niêm yết lãi suất từ 6,5-7,5%/năm cho các khoản tiền gửi trung và dài hạn.
VietABank tăng vốn điều lệ hơn 1.224 tỷ đồng - từ 8.163 tỷ đồng lên gần 9.388 tỷ đồng - sau khi phát hành hơn 122 triệu cổ phiếu trả cổ tức, VikkiBankS chào bán 175 triệu cổ phiếu riêng lẻ để nâng vốn điều lệ từ 500 tỷ đồng lên 2.250 tỷ đồng, Thép Nam Kim phát hành thêm gần 45 triệu cổ phiếu để tăng vốn lên hơn 4.923 tỷ đồng.
Theo công văn mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, trong năm 2026, 25 ngân hàng thương mại sẽ được loại trừ phần dư nợ tăng thêm đối với các khoản vay phục vụ nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất khi xác định giới hạn tăng trưởng tín dụng bất động sản.