Khoảng 8 giờ ngày 24-7-1966, ta phát hiện địch sử dụng 8 trực thăng đổ khoảng một tiểu đoàn quân xuống khu vực Bãi Cháy, phối hợp với lực lượng từ Khe Giao tiến lên nhằm chiếm giữ điểm cao 402 (phía Bắc Đường 9, thuộc Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị) và khống chế khu vực.
Đại tá Ngô Nhật Dương, nguyên Trưởng phòng Lịch sử Hậu cần-Kỹ thuật quân sự, Viện Lịch sử Quân sự (nay là Viện Chiến lược và Lịch sử Quốc phòng Việt Nam), từng viết trong cuốn 'Lê Triệu - Cuộc đời là chiến trận'.
Từng là căn cứ cách mạng quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, núi Mo So, An Giang nay trở thành điểm đến thu hút du khách, nhờ cảnh quan núi đá hùng vĩ, hệ thống hang động kỳ thú và giá trị lịch sử đặc biệt. Nơi đây được công nhận là khu di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1995.
Khái niệm biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những ký hiệu có trong lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, lắng đọng, kết thành hình tượng với tri thức văn hóa sâu rộng, có tính cộng đồng cao, trở thành 'căn cước văn hóa' của mỗi dân tộc. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nên nhìn vào biểu tượng sẽ thấy nội dung bản chất thời đại.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, với vị trí chiến lược quan trọng nơi cửa ngõ giao thương, lịch sử đã khắc ghi dấu ấn ba làng kháng chiến nổi tiếng ở Bắc Ninh (trước đây thuộc huyện Yên Dũng, Bắc Giang): Ảm Trứ, Long Trì và Cảnh Thụy. Không chỉ là hậu phương vững chắc, chở che bộ đội, những ngôi làng này còn truyền lửa cách mạng cho nhiều thế hệ tiếp bước.
Với những con đường nằm sâu dưới lòng đất từ 5-7m, cao 1,6-1,8m, ngang từ 1-1,2m và đặc biệt dài 1,5km, có sức chứa đến 500 người hoạt động, địa đạo Nhơn Trạch không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử vì từng là Căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch - nơi chỉ đạo đấu tranh, tấn công địch trong thời kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đây còn là một kiến trúc quân sự độc đáo; đã được Bộ Văn hóa và Thông tin (ngày 19-1-2001) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
Ngày 15/4/1975 là ngày diễn ra trận chiến ác liệt trên mặt trận Phan Rang giữa bộ đội ta với quân địch nhằm tiến tới giải phóng toàn tỉnh Ninh Thuận.
Ngày 14/4/1975, Sư đoàn 3 Quân khu 5 tiến công tuyến phòng thủ Phan Rang của địch. Bộ đội đặc công hải quân và Quân khu 5 giải phóng đảo Song Tử Tây. Bộ Chính trị đồng ý Chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ngày 25-8-1972, khi tôi đã có giấy báo nhập học tại Trường Trung cấp Điện lực Thái Nguyên thì có lệnh gọi nhập ngũ.
Ngày 13/3/1975, tại mặt trận Tây Nguyên, Trung đoàn 148 đánh chiếm ấp chiến lược Châu Sơn; Trung đoàn 64 giải phóng Buôn Hồ, Chư Pao, Đạt Lý. Cùng ngày, Sư đoàn 3 Quân khu 5 tiêu diệt 9 chốt địch trên Đường 19 rồi tiếp tục phát triển về Vườn Xoài, tiếp tục cắt Đường 19.
Hồi còn trong căn cứ K8 (An Khê), nói là căn cứ, nhưng thật ra vùng phía Đông Nam An Khê thuộc K7 (huyện Kông Chro và Đak Pơ ngày nay) khi ấy là 'vùng đệm' giữa vùng giải phóng và vùng địch tạm chiếm.
Từ trung tâm huyện Kông Chro (tỉnh Gia Lai) đi chừng 30 km là đến xã Sró. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều lần trong các chuyến công tác, tôi đã qua lại nơi đây. Kỷ niệm thì nhiều, nhưng tôi nhớ nhất là hồi chú Trần Quốc Bảo làm Bí thư Huyện ủy.
Năm 1968, sau chiến dịch Tết Mậu Thân, cơ quan Báo Giải phóng Quảng Đà dời về thôn Long Hội, Điện Thái, Điện Bàn. Đặt chân đến Long Hội, chúng tôi bắt tay ngay vào việc làm hầm chống phi pháo. Trên nóc hầm chúng tôi làm một cái trại như cái chòi giữ vịt. Ban ngày im ắng có thể treo võng nằm đọc báo, hoặc ngồi ghi chép. Trong hầm có thể treo chật chật được năm, sáu cái võng.
Băng qua cầu phao Hạnh Phúc, đến địa phận Thọ Xuân, Thanh Hóa thấy có hai cô gái đang xắn quần cắt cỏ dưới đồng, mấy anh đi trước ném đá ghẹo, hai cô ngẩng lên cười tươi rói, còn đưa tay lên vẫy chào. Được thể, anh em trong đội đi sau vội buông lời chào hỏi, hai cô đứng lên cười rúc rích, rồi chúc cả đoàn lên đường mạnh khỏe, hết chiến tranh về với chúng em.
Tết Kỷ Dậu năm 1970, tại khu vực kênh 62, xã Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng (Long An), hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 88 đã anh dũng hy sinh trong một trận chống càn… Để tưởng niệm, tri ân các anh hùng liệt sĩ, người dân nơi đây đã tự nguyện hiến đất để chính quyền địa phương cùng các mạnh thường quân xây Đền tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Trung đoàn 88 (Đền tưởng niệm).
Trận Điện Biên Phủ, kẻ địch tự tin vào sức mạnh của chúng là quân đông và tinh nhuệ, trang bị nhiều và mạnh, công sự vững chắc, tổ chức phòng ngự hiện đại, khả năng tiếp tế và tăng viện dồi dào.
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Để góp phần vào chiến thắng vẻ vang đó, nhiều tấm gương anh dũng hy sinh khi ở tuổi đời còn rất trẻ, trong những tấm gương tiêu biểu đó có anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn - người con của quê hương cội nguồn cách mạng Cao Bằng.
Do Sở chỉ huy Nà Tấu được thiết lập để sử dụng trong một thời gian ngắn, các công sự chỉ làm tạm thời để tránh phi pháo, nên không còn dấu vết.
Trong đợt 2 của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ta phải kéo dài thời gian chiến đấu. Vào thời điểm này, thời tiết mưa nhiều, máy bay địch liên tục đánh phá giao thông hòng khống chế tiếp tế của ta.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngành Quân y đã xây dựng hầm hào, lán trại dưới mặt đất, biến thành một Bệnh viện ngầm để kịp thời chữa trị cho các chiến sỹ, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại chung của dân tộc.
Bố phòng hết sức kiên cố, có lực lượng và hỏa lực mạnh với hệ thống lô cốt, hầm hào, công sự vững chắc, Tiểu đoàn 80 Biệt động quân (Quân đoàn 2 ngụy) từng tự tin tuyên bố về cứ điểm biên phòng Chư Nghé: 'Khi nào nước sông Pô Cô chảy ngược, con cóc mọc râu thì Chư Nghé mới thất thủ'. Vậy nhưng, ngày 22-9-1973, cứ điểm này bị xóa sổ bởi tinh thần chiến đấu ngoan cường, anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320, Quân đoàn 3).
Sáng 22-9, UBND huyện Ia Grai (tỉnh Gia Lai) long trọng tổ chức dâng hương, dâng hoa tại Di tích lịch sử Chiến thắng Chư Nghé (xã Ia Krăi) và kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử này (22/9/1973-22/9/2023).
Tháng 7 về ! viết để tri ân người bạn anh hùng liệt sĩ.
Chúng tôi từng tham gia bảo vệ các đợt trao trả tù binh của hai phía như vậy từ sau Hiệp định Paris tại khu giải phóng thuộc địa bàn Đức Huệ. Tuy nhiên, ít khi phía chính quyền Sài Gòn chấp hành nghiêm chỉnh quy định.
Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, Đồn Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) Cầu Ván là một pháo đài vững chắc, đánh bại hàng chục cuộc tấn công cấp tiểu đoàn có phi pháo và tàu chiến yểm trợ. Đây cũng là đơn vị duy nhất của BĐBP Đồng Tháp vinh dự được 2 lần tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 có sự đóng góp quan trọng của lực lượng quân y - 'những chiến sĩ áo trắng' trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch.
Nhắc đến hai trận đánh trong đêm lịch sử ấy, giọng của ông Huỳnh Năm Cựu chiến binh Tiểu đoàn 59 càng lúc càng khí thế. Câu chuyện ông kể khiến người đối diện cảm nhận như trận đánh đó mới kết thúc ngày hôm qua...
Ngày 23-3-2023, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, đồng chí Nguyễn Văn Quảng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng trao danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân tặng Tiểu đoàn 3, Mặt trận 44 Quảng Đà vì những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, đặc biệt là sau 21 ngày đêm (từ 20-11 đến 10-12-1968) kiên cường chốt giữ, ngăn chặn, đẩy lùi, phá tan cuộc hành quân, càn quét 'Cooc dom' của Mỹ-ngụy vào huyện Điện Bàn (nay là thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Sau trận đánh này, Tiểu đoàn vinh dự được Bác Hồ khen ngợi.
Trưa 3-7-1966, tổ trinh sát của Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66 (Sư đoàn 1, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam) trên đường đi tuần, phát hiện lực lượng Mỹ có khoảng một đại đội từ đồn Đức Vinh (huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai) nống ra, chúng đang dừng lại ăn trưa ở bên bìa rừng.
Lượng lớn đạn pháo cối, đầu đạn phi pháo, lựu đạn, đạn ĐKZ… được phát hiện, thu gom tại một công trường ở xã Đồng Văn, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc.
Tiểu đoàn 59 được thành lập ngày 10-6-1950 tại thôn 10, xã Tam Chánh, huyện Tam Kỳ (nay là thành phố Tam Kỳ) theo quyết định của Bộ Tư lệnh Liên khu 5. Lúc bấy giờ, tiểu đoàn có 2 đại đội: Đại đội 6 độc lập của Đà Nẵng, Đại đội 11 của tỉnh. Cuối năm 1950, bổ sung thêm vào biên chế tiểu đoàn Đại đội 4 (từ bộ đội địa phương của tỉnh Quảng Nam). Đồng chí Nguyễn Lựu được giao chức vụ Tiểu đoàn trưởng - chỉ huy tiểu đoàn và đồng chí Phạm Đạo làm Chính trị viên.