Vì sao việc 'cắt ngọn' hay tháo dỡ các tòa nhà sai phạm Mường Thanh gần như bất khả thi?
Trong dự thảo Nghị quyết đang được lấy ý kiến về cơ chế đặc thù xử lý sai phạm tại 12 dự án gắn liền với Tập đoàn Mường Thanh, UBND thành phố Hà Nội đã đề xuất phân loại công trình thành 3 nhóm xử lý, trong đó mở ra hướng cho phép phần lớn công trình được tồn tại hoặc tồn tại có điều kiện.
Đề xuất này lập tức thu hút sự chú ý của dư luận, bởi theo quy định pháp luật hiện hành, các công trình xây dựng sai quy hoạch, vượt tầng vốn thuộc diện phải cưỡng chế tháo dỡ. Tuy nhiên, khi nhìn vào thực tế hiện trường tại các đại đô thị cao tầng, giải pháp "cắt ngọn" hay đập bỏ cơ học đang vấp phải những rào cản kỹ thuật xây dựng và an sinh xã hội chưa từng có tiền lệ.
Khác hoàn toàn với việc xử lý nhà ở riêng lẻ hay các công trình thấp tầng, phần lớn các dự án vi phạm của Mường Thanh như tổ hợp HH Linh Đàm, Đại Thanh hay Kim Văn - Kim Lũ đều là các tòa tháp cao từ ba mươi đến hơn bốn mươi tầng.
Về mặt kỹ thuật, nhà cao tầng bê tông cốt thép được thiết kế như một hệ kết cấu toàn khối, liên kết chặt chẽ từ móng cọc, vách cứng, lõi thang cho đến đỉnh mái. Khi tiến hành phá dỡ nhiều tầng trên cùng, các thiết bị cơ giới như búa rung, máy cắt thủy lực hay kích phá sẽ tạo ra rung chấn liên tục với biên độ lớn.
Tác động này rất dễ gây nứt sàn, biến dạng cột chịu lực và làm suy giảm khả năng chịu tải của toàn bộ các tầng hợp pháp bên dưới.

Khác hoàn toàn với việc xử lý nhà ở riêng lẻ hay các công trình thấp tầng, phần lớn các dự án vi phạm của Mường Thanh như tổ hợp HH Linh Đàm, Đại Thanh hay Kim Văn - Kim Lũ đều là các tòa tháp cao từ ba mươi đến hơn bốn mươi tầng.
Nghiêm trọng hơn, nhiều khối nhà tại các khu đô thị này được xây dựng liền kề và dùng chung hệ kết cấu ngầm từ tầng hầm đến móng bè. Việc can thiệp thô bạo vào tải trọng của một nhánh tháp có thể làm thay đổi biểu đồ ứng suất móng, dẫn đến nguy cơ lún lệch cục bộ, đe dọa trực tiếp đến tuổi thọ và độ an toàn của toàn bộ cụm công trình lân cận.
Bên cạnh bài toán kết cấu, không gian hiện trường cũng là trở ngại gần như không thể vượt qua.
Về nguyên tắc an toàn lao động, việc phá dỡ công trình cao tầng đòi hỏi phải thiết lập bán kính cách ly tương đương chiều cao tòa nhà. Thế nhưng, tại các tổ hợp như HH Linh Đàm, khoảng cách giữa các tòa nhà chỉ vỏn vẹn vài chục mét, phía dưới là đường nội bộ, bãi đỗ xe và các khu kinh doanh dịch vụ luôn tấp nập ngày đêm.
Với mật độ dày đặc như vậy, việc lắp dựng cẩu tháp hạng nặng, hệ thống lưới che chắn bụi và tổ chức vận chuyển hàng nghìn tấn phế thải bê tông từ độ cao hơn một trăm mét xuống mặt đất là thách thức tiềm ẩn hiểm họa khôn lường đối với khu dân cư xung quanh.
Một yếu tố kỹ thuật then chốt khác khiến phương án "cắt ngọn" bị tắc nghẽn nằm ở hệ thống cơ điện và hạ tầng kỹ thuật của tòa nhà. Hệ thống thang máy, đường ống cấp thoát nước, trục cáp điện động lực, hệ thống tăng áp hút khói phòng cháy chữa cháy và thông gió đều được bố trí theo các trục đứng xuyên suốt từ đáy lên tới phòng kỹ thuật và bể nước mái.
Nếu bóc dỡ các tầng trên cùng, toàn bộ phần đầu mối kỹ thuật này buộc phải cắt bỏ và tái cấu trúc lại ở một cao độ thấp hơn. Quá trình thi công phức tạp này kéo dài nhiều tháng, đồng nghĩa với việc hàng nghìn hộ dân ở các tầng bên dưới sẽ phải chịu cảnh mất nước, gián đoạn cấp điện và ngừng vận hành thang máy, biến cuộc sống thường nhật thành một cuộc khủng hoảng sinh hoạt kéo dài.
Dẫu vậy, rào cản kỹ thuật hay kết cấu bê tông cốt thép vẫn chưa phải là nút thắt nan giải nhất, mà chính là bài toán về con người và an sinh xã hội. Toàn bộ mười hai dự án có tới hơn mười tám nghìn căn hộ xây dựng vượt quy hoạch, tương đương quy mô dân số của cả một phường lớn với hàng chục nghìn nhân khẩu. Đại đa số người mua nhà đã nhận bàn giao, chuyển về sinh sống ổn định suốt cả thập kỷ qua và xem đây là tài sản tích cóp cả đời.
Nếu áp dụng biện pháp cưỡng chế phá dỡ triệt để, hàng nghìn gia đình sẽ lập tức mất đi chỗ ở, làm phát sinh nguy cơ khiếu kiện kéo dài và tạo áp lực khổng lồ lên trật tự an toàn xã hội. Nguồn lực tài chính cũng như quỹ nhà tạm cư hiện nay của thành phố và chủ đầu tư khó lòng kham nổi quy mô tái định cư lớn đến mức độ này.
Từ thực tế nghiệt ngã đó, Sở Xây dựng Hà Nội đã nhìn nhận việc tháo dỡ các công trình quy mô lớn, chung khối đế là bài toán chưa có tiền lệ và tiềm ẩn rủi ro rất cao.
Để tháo gỡ bế tắc, dự thảo chính sách đã mở ra một lối thoát mang tính thực tiễn: đối với các công trình vi phạm thuộc diện phải tháo dỡ nhưng việc phá dỡ gây mất an toàn cho xung quanh, thành phố sẽ xem xét phương án chuyển đổi công năng.
Thay vì can thiệp đập phá cơ học, chính quyền sẽ thu hồi quyền ở, di dời cư dân để chuyển các diện tích này sang mục đích phục vụ cộng đồng hoặc dịch vụ phi lưu trú. Đây được xem là bước đi dung hòa giữa việc giữ vững kỷ cương trật tự xây dựng, bảo đảm an toàn kết cấu đô thị và giảm thiểu tối đa những tổn thương về mặt an sinh xã hội.

