Những diễn biến trong 9 tháng năm 2026 cho thấy, xuất khẩu gạo cần giảm dần sự phụ thuộc vào một vài thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng sang những thị trường có khả năng tạo giá trị cao hơn.
Xuất khẩu gạo đối mặt sức ép về giá và cạnh tranh nguồn cung. Để giữ đà tăng trưởng, ngành lúa gạo cần nâng chất lượng, củng cố vùng nguyên liệu, mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu.
Sau 9 tháng năm 2026, xuất khẩu gạo Việt Nam chịu sức ép cả về lượng và giá trị khi nhu cầu quốc tế yếu, giá xuất khẩu giảm và cạnh tranh từ các nước cung ứng lớn gia tăng. Tuy nhiên, sự tăng trưởng mạnh tại Trung Quốc, Iraq cùng tín hiệu phục hồi của giá xuất khẩu cho thấy dư địa vẫn còn.
Ngành lúa gạo Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết về tái cơ cấu theo hướng chuyển đổi chất lượng, gia tăng giá trị và phát triển bền vững. Không còn đặt trọng tâm vào việc "chạy đua" về mặt sản lượng, ngành nông nghiệp đang dồn lực tháo gỡ các nút thắt về thể chế, tín dụng, mở rộng thị trường cao cấp và đẩy mạnh xây dựng thương hiệu gạo quốc gia.
Việc tiếp tục thu mua gạo trong những tháng cuối năm được kỳ vọng giúp Indonesia củng cố lượng dự trữ, tạo đầu ra cho nông dân và tăng khả năng ứng phó trước những biến động về nguồn cung.
Xuất khẩu gạo của Campuchia sang Philippines đang tăng mạnh, trong bối cảnh tuyến vận tải biển trực tiếp mới được đưa vào khai thác.
Trong 8 tháng năm 2026, Trung Quốc chi gần 505 triệu USD nhập khẩu hơn 1 triệu tấn gạo Việt Nam, vươn lên vị trí thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của gạo Việt, sau Philippines.
Đặc biệt, trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Iraq ghi nhận mức tăng trưởng đột biến với giá trị tăng 98,9 lần so với cùng kỳ năm trước.
Theo Liên đoàn Lúa gạo Campuchia (CRF), nước này đã xuất khẩu 122.102 tấn gạo sang Philippines trong tám tháng đầu năm 2026, và tổng sản lượng xuất khẩu cả năm dự kiến đạt khoảng 209.000 tấn.
Giá gạo và dòng chảy thương mại toàn cầu đang biến động, đặt ngành gạo Việt Nam trước yêu cầu thay đổi cách tổ chức sản xuất và xuất khẩu.
Thị trường gạo thế giới cuối năm 2026 đang đứng trước nhiều biến động từ thời tiết, nguồn cung đến địa chính trị. Để bảo đảm mục tiêu xuất khẩu khoảng 7,7 triệu tấn gạo năm 2026, Việt Nam cần tận dụng nhu cầu nhập khẩu gia tăng, nâng sức cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và các sản phẩm đáp ứng xu hướng sản xuất xanh.
Xuất khẩu gạo Việt Nam đang đối mặt với một nghịch lý: sản lượng vẫn duy trì ở mức cao nhưng giá trị thu về chịu sức ép giảm. Trong cuộc cạnh tranh mới, lợi thế không còn nằm ở khả năng cung ứng nhiều, mà ở khả năng tạo ra sản phẩm chất lượng, minh bạch nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Xuất khẩu gạo 8 tháng năm 2026 đạt hơn 6 triệu tấn, trị giá gần 2,91 tỷ USD, giảm cả về lượng lẫn giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Khi dư địa tăng sản lượng không còn nhiều và cạnh tranh trên thị trường thế giới ngày càng gay gắt, ngành gạo Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển từ “bán được nhiều” sang nâng giá trị mỗi tấn gạo bằng chất lượng, thương hiệu và đa dạng hóa thị trường.
Trong những tháng đầu năm, xuất khẩu gạo trên địa bàn tỉnh giảm khá mạnh so với cùng kỳ. Với việc thị trường xuất khẩu gạo đang gặp khó khăn, các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn tỉnh đang chủ động tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Philippines dự kiến nhập khẩu 5 triệu tấn gạo trong năm 2026, hơn khoảng trên 1 triệu tấn so với bình thường các năm. Đây là cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam.
Thị trường lúa gạo toàn cầu đang đối mặt với nhiều biến động khi nhu cầu từ các nước lớn tăng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Philippines dự kiến sẽ nhập khẩu khoảng 5,5 triệu tấn gạo trong năm nay.
Xuất khẩu gạo của Việt Nam vẫn vượt mốc 6 triệu tấn sau 8 tháng năm 2026, nhưng giá bán bình quân giảm 6%, xuống 481 USD/tấn. Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất, trong khi giá gạo những tháng gần đây bắt đầu có dấu hiệu phục hồi.
Thị trường gạo thế giới tiếp tục biến động, khiến xuất khẩu gạo Việt Nam 8 tháng năm 2026 giảm so với cùng kỳ. Dù vậy, giá xuất khẩu bắt đầu phục hồi cùng những thay đổi về cung - cầu tại các thị trường lớn đang tạo thêm cơ hội để ngành hàng tăng tốc cuối năm.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 triệu tấn gạo, nhưng giá trị chỉ đạt khoảng 2,86 tỷ USD, giảm 11,9% so với cùng kỳ năm trước; lượng xuất khẩu cũng giảm 6,3%; giá xuất khẩu bình quân đạt 480,9 USD/tấn, giảm 6%.
Giá lúa gạo ngày 4.9.2026 được dự báo tiếp tục ổn định, trong khi nhu cầu nhập khẩu lớn từ Philippines có thể tạo thêm lực đỡ cho gạo nguyên liệu và xuất khẩu.
Xuất khẩu gạo giảm trong 8 tháng năm 2026 cho thấy ngành hàng vẫn chịu tác động rõ từ biến động giá và chính sách nhập khẩu của các thị trường. Dù vậy, giá gạo xuất khẩu đã cải thiện nhẹ, cùng với những thay đổi về cung - cầu trên thị trường thế giới,tạo thêm dư địa cho xuất khẩu trong những tháng cuối năm.
Việc Trung Quốc giảm lượng gạo nhập khẩu đồng thời có xu hướng tăng xuất khẩu gạo được cho là sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh đối với các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan trên thị trường thế giới.
Bộ Công Thương đang chủ động tháo gỡ vướng mắc, giữ ổn định thị trường và chuỗi cung ứng, tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động xuất khẩu gạo.
Theo dự báo của FAO, sản lượng gạo của Indonesia trong niên vụ 2026/2027 có thể đạt 38,6 triệu tấn, tăng khoảng 4,6 triệu tấn so với mức 34 triệu tấn của niên vụ 2024/2025.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 8 tháng 2026 xuất khẩu gạo ước đạt 6,03 triệu tấn, giảm 5% so với cùng kỳ, giá trị ước đạt gần 2,91 tỷ USD, giảm 10,7%.
Sản lượng xuất khẩu lớn đã tạo vị thế cho gạo Việt, nhưng chặng đường tiếp theo của ngành hàng phải được đo bằng giá trị, thương hiệu và thu nhập của người trồng lúa.
Philippines - thị trường chiếm gần 45% kim ngạch gạo Việt đang điều tra áp dụng biện pháp tự vệ với gạo nhập khẩu, tạo thêm sức ép cho ngành hàng trong những tháng cuối năm.
Theo tổng hợp của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, đến ngày 15/8/2026, Việt Nam ước xuất khẩu 5,726 triệu tấn gạo.
Chuyên gia nhận định, trước dự báo El Nino có thể quay trở lại và mạnh nhất trong hơn 70 năm qua, nhiều quốc gia đang chủ động tăng dự trữ lương thực, giúp một số loại gạo nguyên liệu xuất khẩu duy trì mặt bằng cao, tạo lực đỡ cho thị trường trong nước.
7 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 5,5 triệu tấn gạo, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, nhưng kim ngạch giảm 6,7%. Lượng gạo dành cho xuất khẩu những tháng cuối năm không còn nhiều, trong khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế vẫn lớn, đòi hỏi ngành gạo cần tính đến một bài toán khác: Nâng giá trị thay vì tiếp tục dựa vào sản lượng.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đề nghị các doanh nghiệp hội viên và thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo tích cực thu mua lúa của nông dân, trong đó các giống lúa thơm, lúa chất lượng cao như DT8, OM18… với mức giá từ 7.000 đồng/kg trở lên.
Người trồng lúa chịu nhiều áp lực do chi phí vật tư đầu vào cao, trong khi giá thu mua lúa có xu hướng giảm tại thời điểm thu hoạch. Để hài hoà lợi ích các bên, đảm bảo lợi ích nông dân, nâng cao giá trị gạo Việt, Hiệp hội Lương thực đề nghị doanh nghiệp chung tay, mua lúa thơm giá tối thiểu từ 7.000 đồng/kg trở lên, xuất khẩu giá từ 500 USD/tấn trở lên.
Trên thị trường quốc tế, giá gạo Việt Nam có diễn biến tích cực hơn trong tháng 7, theo Trung tâm thông tin Công nghiệp và Thương mại (Bộ Công Thương).
Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) kêu gọi các doanh nghiệp chung tay giữ giá lúa cho nông dân và giá gạo xuất khẩu trước nhiều diễn biến bất thường của thị trường.
Sau nhiều tháng giảm sâu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đang phát tín hiệu phục hồi, trong khi giá lúa và gạo nguyên liệu trong nước vẫn duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, dư cung toàn cầu, cạnh tranh gay gắt từ các nước xuất khẩu và xu hướng gia tăng rào cản thương mại khiến triển vọng ngành gạo vẫn đối mặt nhiều thách thức.
Trong bối cảnh thị trường gạo thế giới phục hồi nhưng cạnh tranh ngày càng gay gắt do dư cung, ngành lúa gạo Việt Nam cần chuyển mạnh từ xuất khẩu số lượng sang nâng cao giá trị, phát triển thương hiệu quốc gia và mở rộng thị trường.
Xuất khẩu gạo 7 tháng năm 2026 giảm giá trị do giá xuất khẩu đi xuống. Doanh nghiệp kiến nghị nhiều giải pháp nhằm nâng sức cạnh tranh và giữ đà xuất khẩu.
Việc bổ sung cơ chế đánh giá mức độ tín nhiệm thương nhân xuất khẩu gạo không tạo thêm điều kiện kinh doanh mà hướng tới minh bạch, nâng cao năng lực doanh nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu gạo bền vững.
Giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức cao trong tháng 7. Kim ngạch xuất khẩu nửa đầu năm đạt hơn 2,4 tỷ USD với sản lượng kỷ lục. Tuy nhiên, nguồn cung thế giới dư thừa đang đặt ra những thách thức lớn đối với xuất khẩu gạo trong những tháng cuối năm.
Sau nhiều tháng giảm sâu, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đang phục hồi, đặc biệt ở phân khúc gạo thơm và gạo chất lượng cao. Tuy nhiên, tín hiệu tích cực này diễn ra trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu vẫn dồi dào, Ấn Độ gia tăng sức ép cạnh tranh về giá, còn nhiều quốc gia nhập khẩu đẩy mạnh tự chủ lương thực. Điều đó buộc ngành gạo Việt Nam phải chuyển mạnh từ cạnh tranh bằng sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, thương hiệu và giá trị gia tăng.
Thị trường lúa gạo ngày 23/7/2026 ghi nhận diễn biến tương đối ổn định tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hoạt động thu mua vẫn diễn ra đều, trong khi mặt bằng giá lúa và gạo nội địa không có nhiều biến động so với những phiên gần đây.
Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng hồi phục nhờ nhu cầu tích cực từ các thị trường chủ lực như Philippines và Trung Quốc. Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn cung gạo thế giới dồi dào, cạnh tranh từ các nước xuất khẩu và xu hướng gia tăng hàng rào thương mại đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh cho gạo Việt...
Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gạo của Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng về sản lượng, khẳng định vị thế của hạt gạo Việt trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân giảm khiến kim ngạch chưa đạt kỳ vọng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT), xuất khẩu gạo của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng về sản lượng, song giá trị thu về vẫn sụt giảm do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh. Điều này cho thấy áp lực cạnh tranh về giá trên thị trường quốc tế vẫn rất lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao giá trị gia tăng của hạt gạo.
Giá lúa gạo ngày 7.7.2026 giữ nguyên so với phiên trước. Thị trường nội địa giao dịch chậm, trong khi gạo thơm xuất khẩu vẫn giữ mức cao.
Nửa đầu năm 2026, xuất khẩu gạo tiếp tục tăng về sản lượng. Ngành hàng lúa gạo đang hướng đến phát triển giảm phát thải và nâng giá trị để giữ lợi thế cạnh tranh.
Với lượng gạo dự trữ quốc gia vượt công suất kho bãi, Indonesia lên kế hoạch xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn gạo cao cấp sang Malaysia, Singapore và UAE.
Ngày 29/6, Cơ quan Hậu cần Quốc gia Indonesia thông báo đã chuẩn bị sẵn sàng 200.000 tấn gạo cao cấp để xuất khẩu sang một số thị trường quốc tế, bao gồm Malaysia, Singapore và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE).
Ngày 29-6, giá lúa gạo trong nước duy trì nhịp ổn định, trong khi gạo xuất khẩu tiếp tục ghi nhận sự khởi sắc với nhịp tăng nhẹ từ 2-10 USD/tấn.
Ngày 27-6, thị trường nội địa ghi nhận xu hướng ổn định ở cả 2 mặt hàng lúa và gạo. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đồng loạt tăng từ 3-10 USD, giao dịch quanh ngưỡng 347-512 USD/tấn.
Thị trường gạo toàn cầu ngày càng ưu tiên các dòng sản phẩm chất lượng cao. Thực tế cũng cho thấy, các dòng gạo chất lượng cao và đặc sản của Việt Nam vẫn duy trì khả năng cạnh tranh và giữ giá tốt hơn so với dòng gạo phổ thông. Đây sẽ tiếp tục là lợi thế quan trọng của ngành gạo Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam dự kiến xuất khẩu khoảng 5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2,36 tỷ USD.
Nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh trong khi nguồn cung toàn cầu có dấu hiệu thu hẹp đang tạo dư địa lớn cho xuất khẩu gạo Việt Nam. Tuy nhiên, để giữ vững thị phần và nâng cao giá trị hạt gạo, doanh nghiệp phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển chuỗi cung ứng bền vững.
6 tháng đầu năm 2026 xuất khẩu gạo tăng về sản lượng. Triển vọng thời gian tới được dự báo tích cực nhờ nhu cầu nhập khẩu tăng và nguy cơ thiếu hụt nguồn cung toàn cầu.