Quân đội của 19 nước tại 4 châu lục đã lựa chọn Leopard 2 làm xe tăng chiến đấu chủ lực. Không có loại xe tăng phương Tây nào khác có thành tích xuất khẩu tương đương.
Sau nhiều tháng không có tiểu đoàn luân phiên của Mỹ đồn trú, Lithuania sẽ tiếp nhận trở lại 1 tiểu đoàn trang bị xe tăng M1 Abrams.
Giáp xe tăng Abrams ngày càng dày và nặng, nhưng không thể tăng mãi. Trước sự phát triển của tên lửa chống tăng và đạn chống tăng, Mỹ bổ sung Trophy để tạo thêm một lớp bảo vệ có thể phát hiện và đánh chặn mối đe dọa trước khi chúng đánh trúng xe.
Drone Nga hoạt động dày đặc cùng yêu cầu bảo dưỡng và hậu cần phức tạp khiến Ukraine phải ngừng đưa xe tăng Abrams vào các chiến dịch trực tiếp.
M1A2 SEPv3 là một trong những gói nâng cấp sâu nhất của dòng xe tăng Abrams. Mỹ tập trung cải thiện kiến trúc điện tử, nguồn điện, liên kết dữ liệu, cảm biến và khả năng bảo vệ, đồng thời tạo thêm dư địa để tích hợp công nghệ mới.
M1 Abrams không tạo ra bước ngoặt chỉ nhờ một khẩu pháo mạnh. Ngay từ thiết kế ban đầu, Mỹ đã kết hợp giáp composite, động cơ turbine khí, hệ thống điều khiển hỏa lực, kính ngắm ảnh nhiệt và pháo ổn định trên cùng một nền tảng.
M1E3 Abrams đánh dấu một hướng đi mới của Mỹ sau nhiều thập niên liên tục nâng cấp dòng M1. Thay vì tiếp tục bổ sung trang bị lên một nền tảng ngày càng nặng, Mỹ muốn giảm trọng lượng, giảm gánh nặng hậu cần và thiết kế xe tăng để thích nghi nhanh hơn với chiến trường tương lai.
Xe tăng M1 Abrams bước vào biên chế Mỹ từ năm 1980, nhưng thiết kế này chưa bị thay thế hoàn toàn sau hơn 4 thập niên. Thay vào đó, Mỹ liên tục nâng cấp Abrams để thích ứng với những thay đổi về hỏa lực, cảm biến, bảo vệ và chiến tranh số.
Mật độ UAV ngày càng dày đặc từ Nga trên chiến trường đã khiến các đơn vị Ukraine phải tạm ngưng sử dụng xe tăng M1A1 Abrams.
M1 Abrams ra đời đã mở sang một thế hệ xe tăng mới, nhưng Mỹ không loại bỏ M60 ngay lập tức. Dòng Patton này tiếp tục phục vụ trong lực lượng dự bị cho đến năm 1997.
Chiến tranh Iraq đặt M1 Abrams vào một môi trường khác xa chiến trường cơ giới mà nó được thiết kế để đối phó. Các trận đánh tại Najaf, Sadr City và Fallujah cho thấy Abrams vẫn phát huy sức mạnh trong đô thị, nhưng phải thay đổi chiến thuật và bổ sung nhiều trang bị bảo vệ.
M1 Abrams ban đầu sử dụng pháo 105 mm M68. Nhưng sự phát triển của xe tăng Liên Xô khiến Mỹ cần một hệ thống hỏa lực mạnh hơn. Xe tăng M1A1 ra đời với pháo nòng trơn M256 120 mm, tạo bước nhảy lớn về khả năng tiêu diệt mục tiêu bọc thép.
Các kíp lái Ukraine không cho rằng xe tăng M1A1 Abrams đã lỗi thời. Vấn đề nằm ở chỗ chiến trường hiện nay đã thay đổi quá nhanh, khiến một phương tiện mạnh về hỏa lực và bảo vệ vẫn có thể bị hàng loạt máy bay không người lái săn đuổi.
Xe tăng M1 Abrams với pháo 120 mm, đã tạo ra ưu thế rõ rệt trước các xe tăng T-72 của Iraq trong Chiến tranh vùng Vịnh. Cảm biến hiện đại, huấn luyện bài bản, chiến thuật hợp lý và khả năng nắm bắt thông tin đã đóng vai trò quyết định trong cuộc đối đầu này.
Quân đội Ukraine cho biết, sự xuất hiện dày đặc của UAV Nga trên chiến trường khiến họ phải tạm dừng sử dụng xe tăng M1A1 Abrams trong tác chiến.
Sherman, Patton và Abrams đại diện cho 3 giai đoạn lớn trong lịch sử xe tăng Mỹ. Từ một phương tiện được tối ưu cho sản xuất hàng loạt, xe tăng Mỹ dần trở thành nền tảng chiến đấu chú trọng hỏa lực, khả năng sống sót và công nghệ.
M1A2 Abrams đánh dấu bước chuyển quan trọng của dòng xe tăng Mỹ. Máy tính, cảm biến và hệ thống quản lý chiến trường giúp kíp xe không chỉ phát hiện mục tiêu mà còn nhận và chia sẻ thông tin trên chiến trường.
M1A2 Abrams không đứng yên kể từ khi xuất hiện. Qua nhiều gói System Enhancement Package, Mỹ từng bước thay đổi cảm biến, điện tử, liên lạc, nguồn điện, khả năng quản lý chiến trường và hệ thống bảo vệ để giữ Abrams phù hợp với chiến trường hiện đại.
M1A2 SEPv2 không chỉ là một gói nâng cấp thiết bị. Kiến trúc điện tử mới biến Abrams thành một nền tảng tác chiến số, giúp kíp xe xử lý thông tin nhanh hơn, quan sát tốt hơn và kết nối với mạng lưới chỉ huy trên chiến trường.
Một kíp lái Ukraine cho biết xe tăng M1A1 Abrams từng hứng đòn tấn công của hơn 20 máy bay không người lái nhưng vẫn sống sót, cho thấy lớp giáp và các biện pháp bảo vệ bổ sung có thể tạo ra khác biệt trên chiến trường dày đặc drone.
UAV giá rẻ và drone FPV đang tạo ra một thách thức mới cho xe tăng Abrams. Những phương tiện từng được thiết kế chủ yếu để đối phó xe tăng và tên lửa chống tăng giờ phải đối mặt với mối đe dọa đến từ trên không.
Những gì xảy ra với xe tăng M1A1 Abrams tại Pokrovsk cho thấy xe tăng vẫn có hỏa lực, khả năng bảo vệ và giá trị trong tác chiến hiệp đồng, nhưng môi trường chiến trường phủ kín máy bay không người lái đang buộc cách sử dụng chúng phải thay đổi.
M1 Abrams kết hợp trọng lượng lớn, động cơ turbine 1.500 mã lực, pháo 105 mm và hệ thống bảo vệ tiên tiến trong một thiết kế hoàn toàn mới. Đây là nền tảng mở đầu cho dòng xe tăng chủ lực Abrams của Mỹ.
Từng coi là một trong những khí tài quan trọng nhất trên chiến trường, các loại xe tăng do phương Tây cung cấp cho Ukraine giờ đây đang dần bị loại khỏi các cuộc giao tranh trực tiếp do khả năng sống sót rất hạn chế của chúng. The New York Times cho hay, các xe tăng Leopard do Đức sản xuất đang “dành phần lớn thời gian ẩn nấp dưới lưới ngụy trang” trong các vị trí rậm rạp ở vùng Kharkov. Thay vì dẫn đầu những cuộc tấn công, một số xe tăng hiện chủ yếu được sử dụng để thu hồi các phương tiện bị hư hỏng. Điều này diễn ra sau nhiều năm báo cáo chỉ ra hiệu quả hạn chế của xe tăng trong một cuộc xung đột cường độ cao.
MBT-70 và XM803 đều thất bại, nhưng những chương trình này không trở thành khoản đầu tư vô ích. Mỹ đã rút ra nhiều bài học về hỏa lực, điều khiển hỏa lực, cơ động và cách phát triển một xe tăng thế hệ mới.
Sau thời gian trực tiếp vận hành xe tăng M1A1 Abrams tại Pokrovsk, các kíp lái Ukraine đánh giá cao hỏa lực, độ chính xác và khả năng bảo vệ của phương tiện, nhưng cũng chỉ ra những hạn chế rõ rệt trong môi trường chiến trường dày đặc máy bay không người lái.
Sau 2 chiến dịch tại Pokrovsk với tổn thất lớn, Trung đoàn 425 “Skala” của Ukraine đã ngừng sử dụng xe tăng M1A1 Abrams trên chiến trường do mật độ máy bay không người lái Nga quá cao. Tuy nhiên, các kíp lái vẫn cho rằng xe tăng chưa hết thời.
Ngay từ khi phát triển M1 Abrams, Mỹ đã xác định khả năng sống sót của kíp lái là một ưu tiên hàng đầu. Giáp composite Chobham chỉ là một phần của hệ thống bảo vệ, bên cạnh khoang đạn, vách ngăn, hệ thống dập cháy và cách bố trí bên trong xe.
Xe tăng M1A1 Abrams do Mỹ cung cấp cho Ukraine chịu tổn thất nặng trước các cuộc tấn công của Nga, buộc Kiev phải hạn chế đưa chúng ra tiền tuyến.
M1 Abrams và Leopard 2 đều là những xe tăng chủ lực tiêu biểu của phương Tây. Cùng sử dụng pháo 120 mm và kíp lái 4 người, nhưng 2 dòng xe lại thể hiện những cách tiếp cận khác nhau về động cơ, bảo vệ, cơ động và khả năng phát triển.
M1 Abrams từng được tối ưu cho chiến trường quy ước ở châu Âu, nhưng Iraq và Ukraine lần lượt cho thấy xe tăng Mỹ phải đối mặt với những mối đe dọa khác hẳn. Từ IED, chiến đấu đô thị đến UAV và FPV, yêu cầu đối với xe tăng ngày càng vượt xa giáp, pháo và động cơ.
M1A2 SEPv3 đã vượt mốc 73 tấn, nặng hơn đáng kể so với những phiên bản Abrams đầu tiên. Khối lượng tăng lên phản ánh một vấn đề lớn của xe tăng hiện đại: muốn tăng khả năng sống sót, hỏa lực và kết nối, quân đội phải trả giá bằng trọng lượng và khả năng cơ động chiến lược.