Hoàng Minh Đức vừa cho ra mắt tập truyện ngắn “Những mùa hoa ban trắng” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2026). Tôi may mắn được đọc khá nhiều truyện ký của anh. Ở Quảng Trị hiện nay, anh là một trong những cây bút văn xuôi chủ lực. Vốn sống và kho tư liệu của anh khá phong phú. Anh là người chịu khó đi, chịu khó đọc, chịu khó viết. Tập truyện ngắn này chủ yếu ghi lại những khoảnh khắc lịch sử đáng nhớ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Đó là chiếc đèn ông sao đầu đời mà tôi có được. Trong ký ức, nó đẹp hơn bất kỳ chiếc đèn ông sao nào sau này tôi được thấy. Vì nó tỏa ra thứ ánh sáng đẹp mê hồn từ tình yêu của cha...
Trong những năm qua, xu hướng dùng chất liệu truyền thống trong những sáng tạo đương đại đang trở nên phổ biến. Những vở ballet “Dó”, “Đông Hồ”, xiếc “Làng tôi” hay mới đây là “Những lớp phù sa” đang cho thấy nỗ lực của các nghệ sĩ tìm về những chất liệu văn hóa truyền thống để kể những câu chuyện hôm nay. Nhưng giữa việc “đưa văn hóa lên sân khấu” và sự “sáng tạo từ văn hóa” vẫn là một khoảng cách. Bởi nếu truyền thống chỉ dừng lại ở những chiếc nón, cái nơm, tấm chiếu, câu hát dân gian hay bộ trang phục đẹp mắt, văn hóa rất dễ trở thành một thứ đạo cụ trang trí.
Ấy là cánh đồng xa nhất của làng tôi, nơi ba xã gặp nhau, ngăn cách bởi hai nhánh kênh đào. Ở đó có những mùa lúa thấm đẫm bao giọt mồ hôi của người nông dân, nhưng cũng có cả những đêm trăng thanh đầy tiếng hát và những buổi trưa hè lũ trẻ chúng tôi trốn ngủ, rủ nhau đi mò ốc, bắt cua.
“Tiền quý lắm, nhưng không thể kiếm tiền bằng mọi cách, cái giá của tiền... rất đắt” - cho đến tận bây giờ, đã qua rất nhiều năm tháng song câu nói của ông lão chữa rắn cắn vẫn khiến tôi nhớ mãi.
Theo phóng viên TTXVN tại Phnom Penh, Bộ Du lịch Campuchia ngày 8/9 đã hợp tác với Công ty Viettel Cambodia (Metfone) thuộc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) để triển khai chiến dịch chung mang tên “My Village, My Food” (Làng tôi, Món ăn của tôi). Chiến dịch này nhằm quảng bá các điểm đến du lịch của Campuchia thông qua việc giới thiệu những món ăn đặc sắc của từng địa phương.
HNN - Tôi vẫn còn nhớ như in ngày khai trường năm tôi học lớp 5 trường làng. Đó là một ngày khai trường khác lạ.
Làng tôi nằm ở cuối sông Loan. Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, mỗi mùa mưa bão về, lũ trẻ chúng tôi vẫn thường nghe người lớn thấp thỏm hỏi nhau về mực nước hồ Vực Tròn, ở xã Quảng Châu (cũ). Dẫu làng biển Cảnh Dương không sản xuất lúa, nỗi lo đê vỡ cũng chưa bao giờ xảy ra, nhưng những câu chuyện về nước lũ, về con đê và hồ Vực Tròn vẫn trở thành một phần ký ức sâu đậm của tuổi thơ.
Trong ký ức của tôi, làng quê xưa luôn phủ một màu xanh mát rượi của tre. Tre thân thương như người tri kỷ, gắn bó trọn vẹn với từng nhịp thở của dân làng.
Từ đầu hạ cho đến những ngày tận thu, cây ngọc lan đầu làng vẫn miệt mài xanh và bung xòe những cánh hoa mỏng manh, muốt trắng. Hiếm thấy một sắc màu nào lại tinh khôi đến vậy, như thực như mơ, tựa hồ một cơn gió ngang qua có thể cuốn trôi đi mất. Và mùi hương cứ lặng lẽ dịu dàng, thơm khắp nẻo đi về.
Khi đến dự sinh nhật của cháu mình, tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy các cháu đang ở độ tuổi thiếu nhi đang hát say sưa những bài hát của người lớn. Thật là đáng buồn!
Nhiều người trẻ Hà Tĩnh đã lựa chọn trở về quê hương lập nghiệp, mang theo kinh nghiệm, tư duy mới để xây dựng những mô hình kinh tế hiệu quả và góp phần tạo sức sống mới cho vùng quê.
“Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau” là câu ca của người xưa nhằm đề cao sự gắn bó, gần gũi, tương thân tương ái của những người sống cùng nhau trong một cộng đồng. Dưới lũy tre làng, trong khu dân cư, tình làng nghĩa xóm thêm bền chặt.
Một lời thăm hỏi, động viên đúng cách có thể giúp người trong cuộc được an ủi, tiếp thêm động lực, niềm tin. Nhưng rồi, cũng có những sự hỏi han vô tư đến mức vô duyên, khiến người nghe không khỏi khó chịu.
Bây giờ về quê, ngang qua ngôi miếu làng (nay được xây lại không bề thế, uy nghiêm như xưa), tôi vẫn thường cúi đầu tưởng niệm, đinh ninh lời mẹ dặn năm xưa.
Trại hè, nghi thức đội, văn nghệ trong dịp hè vốn là sân chơi vui vẻ, bổ ích cho các bạn nhỏ ở khu dân cư, cộng đồng nơi mình sinh sống. Nhưng rồi, có không ít bậc làm cha mẹ lại xem những hoạt động này chẳng liên quan gì đến con mình.
Không biết cái tên Hàng Phượng có từ khi nào, chỉ biết cái tên ấy 'gọi' đúng nơi có một hàng cây phượng vĩ được người ta đem về từ nơi nào đó xa xôi lắm, trồng thành một dãy bên cạnh Quốc lộ 7, đoạn đi qua làng tôi.
Làng tôi có cái tên rất mỹ miều: Quang Châu, nghĩa là viên ngọc sáng. Ngày nhỏ, chúng tôi chẳng hiểu nhiều về sự ví von so sánh ấy, chỉ thấy xóm Trên, xóm Dưới, xóm Rừng, xóm Rẫy chụm đầu vào nhau dưới hàng tre xanh mát rượi. Bao quanh làng là những xứ đồng gắn theo tên đất, tên người bốn mùa xanh mướt màu lúa khoai.
Có một lần đi chợ Bến Ngự, tôi tình cờ gặp được một mớ khoai lát khô và liền mua ngay nửa ký định bụng sẽ làm món khoai ngào đường ăn cho nhớ ngày xưa. Thế nhưng, mua khoai lát khô về cất một xó, rồi bận bịu sao đó mà quên khuấy luôn.
Cứ mùa hè với những đợt nóng nung người là tôi nhớ những làn nước mát mẻ của tuổi thơ tôi. Làng tôi ven sông, gần biển lại có nhiều ao hồ, khe mội nên tha hồ chỗ để tắm.
Yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ về việc hoàn thành lấy ý kiến nhân dân, thông qua đề án sáp nhập thôn, tổ dân phố trước ngày 30-6 là bước đi tất yếu để tinh gọn bộ máy, tối ưu hóa nguồn lực công.
Những mùa hoa sim tím bạt ngàn núi đồi quê tôi ngày nào, giờ mỗi năm lại dần thưa vắng. Đồi đất vẫn ở đó, nhưng sim tím thì chẳng còn bao nhiêu...
Tháng Ba, mùa hoa gạo nở gợi nỗi niềm nhung nhớ những người con xa quê, nhất là những người sống xa Tổ quốc.
Ngày học lớp 2 trường làng, tôi rất hạnh phúc vì được học với một cô giáo đã yêu thương tôi như người mẹ hiền thương con. Được cô giáo an ủi, động viên, chia sẻ, tuổi thơ của tôi như có ánh nắng ấm áp giữa những ngày mưa bão. Niềm hạnh phúc ấy vẫn luôn in đậm trong ký ức tôi.
'Trong tim ai cũng có một dòng sông riêng mình/ Tim tôi luôn gắn bó với dòng sông tuổi thơ'... Giai điệu ngọt ngào ấy mỗi lần cất lên như đưa tôi về với những năm tháng ấu thơ bên dòng sông quê mẹ. Dòng sông ân tình, chở nặng phù sa, từng nuôi dưỡng, vỗ về biết bao tâm hồn người dân quê tôi.
Làng tôi nằm bên sông. Dòng sông chảy ngang đầu làng thì gặp một ghềnh đá lớn, phải nghiêng mình chao sang bờ bên kia, để lại phía sau một vòng xoáy sâu hun hút, tròn như cái chảo nấu mật mía. Người đi sông sợ nhất là chỗ nước xoáy ấy, còn lũ trẻ chúng tôi thì coi đó là nơi chẳng có gì đáng sợ, thậm chí chỗ đấy đầy mê hoặc.
Tôi nhận được tin báo từ quê nhà về chung vui Rằm tháng Giêng với người trong họ từ trước tết khá lâu. Đó không phải là tin báo đơn thuần về quê ăn cỗ, mà hơn thế, sự hiện diện của những người có mặt còn để kính già, khen trẻ.
Khi mùa xuân về, tôi hay nhớ quê với những ký ức sâu đậm về hội làng. Sáng sớm, già trẻ trong làng với những bộ quần áo mới đã quần tụ đông đủ trên các sân chơi vào những ngày lễ hội. Tiếng trống, tiếng kèn, tiếng loa... vang lên từ các khu vui chơi ấy. Nào là đấu vật, kéo co, chơi đu, múa gậy, múa kỳ lân, bóng đá, bóng chuyền, bắt vịt...
Giữa phố thị cuối năm, tiếng phách, tiếng đàn và lời ca Ca trù vẫn ngân vang bền bỉ. Di sản nghìn năm ấy như mạch ngầm văn hóa, gửi gắm lời tự tình sâu lắng của Tết Việt xưa.
Tháng Chạp chưa về, đi giữa cái rét cắt ngọt qua làn da, gió bấc bắt đầu thầm thì thổi, mưa phùn giăng bạc phố phường. Bóng người vội vã ngược xuôi trên phố, lòng tự dưng chùng xuống, vắng xa một nỗi nhớ quê, thương Tết.
Cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa được bất cứ ai, bất từ nghiên cứu nào giải thích cho mình rằng tại sao người xưa lại gọi những cái giếng của làng là những con mắt của làng. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, một lần lũ trẻ đã ném đá, đất xuống giếng. Thấy vậy, một cụ già kêu lên 'Mấy đứa hư, chúng mày dám ném vào mắt của làng à, về nhà ngay'. Nghe vậy thì bọn trẻ sợ lắm và ngừng ném. Sợ nhưng chẳng hiểu gì cả. Sau này, tôi hỏi mẹ 'Mắt làng thật hở mẹ?'. Nhưng mẹ tôi cũng không nói gì.
Tôi sinh ra và lớn lên bên bờ Nam thượng nguồn sông Gianh của tỉnh Quảng Bình trước đây, nay là tỉnh Quảng Trị. Làng tôi có cái tên rất nôm na thuần Việt là làng Ống. Hầu hết bạn bè và đồng đội của tôi chẳng ai biết làng Ống ở đâu, nhưng khi nghe tôi nói rằng nằm cạnh làng Còi, là nơi thành lập Chi đội vũ trang Lê Trực, tiền thân của Trung đoàn 18 lừng danh, thì nhiều người ồ lên khâm phục. Tôi và dân làng tự hào về ngôi làng thân thương của mình một phần là vì thế!
Tết nào mà chẳng là Tết! Vậy mà càng lớn lên, tôi càng thấy Tết ở làng mình nhạt dần cái vị ấm nồng năm cũ. Nếp nhà xưa vẫn đó, thịt lợn, bánh chưng xanh vẫn đủ đầy. Đầu đường cuối ngõ vẫn xôn xao, gốc đa sân đình vẫn rộn rã. Thế nhưng trong cái đông vui ấy, tôi vẫn nghe đâu đó một khoảng trống hoang hoải, một nỗi hụt hẫng khó gọi thành tên.
Chắc chắn chị còn lưu lại những ngày ấm áp cuối năm ở làng quê Quảng Trị, tình cảm gia đình yêu thương và tiếng cười giòn của các em thơ, tiếng hát của những chàng sinh viên Huế cùng tiếng guitar bập bùng bên lửa ấm…
Mùng 2 Tết Bính Ngọ 2026, trong không khí rộn ràng của những ngày đầu xuân, chúng tôi có mặt tại làng Phan Long (cụm dân cư số 5 và 6 Tân Hội, xã Ô Diên) - ngôi làng được mệnh danh là 'làng tri thức'.
Cuối năm, khi cái lạnh như ngấm cả vào từng nhành cây, kẽ lá thì tôi đã nghe thấy mùa xuân đang về.
Đã nhiều năm nay, từ khi bước qua tuổi sáu mươi, tôi thường về quê ăn Tết sớm. Năm nay cũng vậy, khi những cơn gió mùa Đông Bắc đầu tiên tràn đến, tôi đã thu xếp về quê ăn Tết. Tôi thèm cái không khí, cái hương vị, cái hồn cốt Tết quê.
Người ta thường nói, nền tảng kinh tế vững vàng mang lại sự tự tin. Điều này đặc biệt đúng khi về già.
Xuân về, dòng Thu Bồn xanh trong trở lại sau một mùa nước dữ. Trên chuyến đò ngược thượng nguồn, những dấu vết còn sót lại của lũ lụt, lớp bùn non bồi đắp ruộng đồng và ân tình mộc mạc của người quê hiện lên lặng lẽ mà sâu xa. Miền sông nước này, là chốn để những người con xa quê trở về, để có thể kể một câu chuyện dài về sự sống, ký ức và niềm tri ân.
Một thôn nhỏ nằm yên bình ngay dòng Đồng Nai đang đẹp lên mỗi ngày. Đẹp lên từ sự đoàn kết của Nhân dân, bởi tình yêu Tổ quốc trong tim mỗi cư dân, từ lá cờ đỏ tung bay trong nắng sớm.
Làng tôi nằm ở ven đô, ngôi làng cổ vẫn còn giữ được đậm nét phong tục ở quê từ bao đời nay. Vì thế Tết xưa ở quê không ồn ào, vội vã như bây giờ mà chậm rãi, đầm ấm và thấm sâu vào từng nếp nhà, từng thửa ruộng, từng ký ức của người làng.